Kho truyện
Cỡ chữ Nền Mục lục
Chước Linh

Chương 4: Tĩnh Nữ (2) — Ngàn năm cô quạnh, trường thọ vô tai

Đăng ngày 23/09/2026

Hai chi Hàn thị ở Yển Sư và Lang Gia đời đời đều có người làm quan, cũng được xem là vọng tộc, hiện giờ một trong những người chủ sự trong tộc chính là phụ thân của Hàn Nghi, Hàn Trung. Hàn Trung giữ chức Thượng thư, gần đây phụ trách mọi việc cứu tế, bận đến tối mắt tối mũi, nghe tin con gái gặp ám sát cũng chỉ hỏi qua loa mấy câu rồi rời đi.

Tiểu Chiêu theo Hàn Nghi, thực sự bước vào “thành Lạc Dương”.

Xe đi vào từ Kiến Xuân Môn, vòng qua Vĩnh An Lý, từ xa trông thấy tường thành cung uyển, lại đi qua phố Đồng Đà, xuyên ngang quá nửa nội thành, nhờ vậy Tiểu Chiêu mới có thể nhìn thấy toàn cảnh tòa thành.

Đây là một thành Lạc Dương mà ngay cả a mẫu cũng hiếm khi được trông thấy —— dưới bóng Mang Sơn mờ xa, Kim Dung Thành, Hoa Lâm Viên và Bắc Cung nguy nga sừng sững, những cổng lớn nhà cao tựa phủ đệ thần tiên nối nhau trải dài dọc phố Đồng Đà, thi thoảng có xe vàng chạy qua hai bên ngự đạo, tiếng vang như sấm bất chợt giáng xuống.

Hai bên đường dài trồng xen hòe liễu, tuy không phải mùa xuân nhưng sắc xanh vẫn um tùm.

Thành trì tiền triều từng bị một trận hỏa hoạn lớn thiêu rụi, giờ dấu vết lửa cháy đều đã biến mất, trên phế tích Nam Cung cũng dựng lên điện vũ mới.

Bên trong hào hộ thành hiếm thấy dân thường, phần nhiều đều là quý nhân cùng tôi tớ của họ.

Trật tự nghiêm ngặt, lầu đài cao ngất, không thấy xác chết, không nghe tiếng khóc, cho dù Tiểu Chiêu đang ngồi trong xe cũng bất giác nín thở tập trung tinh thần, ngay cả giọng nói cũng nhỏ đi rất nhiều.

May thay, hậu viên Hàn thị lại là một thế giới hoàn toàn khác với nơi này.

Phủ đệ của quan viên trong triều phần lớn đều nằm ngoài nội thành, bên trong tường thành nha thự san sát, chỉ có hơn mười tòa trạch viện, vật hiếm thì quý, phàm là nhà ở trong nội thành đều là cổng cao nhà đẹp, trai quán rộng rãi, cây thu cây hòe rợp bóng ven đường. Phủ đệ Hàn thị nằm giữa Tây Minh Môn và Quảng Dương Môn, là trạch viện tiền triều được tiên quân ban cho ở, tuy không xa hoa tột bậc như nơi ở của trọng thần đương triều, nhưng cũng được xem là quý giá thanh nhã.

Tiểu Chiêu theo Hàn Nghi đi qua tiền sảnh, suốt đường đều cúi thấp đầu, cẩn thận dè dặt như khi còn ở Đông Uyển. Hàn Nghi dẫn nàng đến hậu viên mình ở, thấy dáng vẻ ấy liền cảm thấy buồn cười, vỗ vỗ vai nàng.

Nàng vừa ngẩng đầu đã bị người ta đưa tay véo má. Một đám tỳ nữ trong hậu viên vây tới, ríu rít bên tai nàng.

“Nữ công tử lại dẫn tiểu nữ lang về rồi.”

“Trông thật khiến người ta thương, ngươi mấy tuổi rồi?”

“……”

Mọi người nhiệt tình vô cùng, chen đến mức nàng không nhích nổi một bước. Hàn Nghi đứng ngoài đám người, chẳng hề để tâm mà nháy mắt với nàng, tự mình trở về phòng.

Tiểu Chiêu chưa từng gặp nữ công tử của sĩ tộc khác, không biết họ có dáng vẻ thế nào, chỉ cảm thấy Hàn Nghi hoàn toàn khác với “quý nhân” trong ấn tượng của nàng.

Nàng không vô lý như binh lính đến thôn thu tô, không vênh váo tự đắc như huyện lệnh Ngân Hoa hầu hạ, càng không hung bạo hiếu sát như thiếu niên nàng gặp ở Đông Uyển.

Nàng lúc nào cũng cười tủm tỉm, lười nhác, có thể nói đùa với tất cả nữ hài trong phủ. Mỗi tháng vào ngày sóc vọng, Hàn thị mở từ đường tế lễ, nữ tử chưa xuất giá không cần tham gia, Hàn Nghi liền lén gọi mọi người vào thư phòng hậu viên, thao thao bất tuyệt.

Trong thư phòng nàng treo một tấm nỉ khổng lồ, là bản đồ cương vực thiên hạ lén nhờ phó quan của Hàn Trung vẽ. Tiểu Chiêu tìm được quê hương mình trên tấm bản đồ ấy —— đó là một thôn nhỏ dưới chân một ngọn núi bên Lạc Thủy, thuộc quận Hoằng Nông, cách Lạc Dương ba ngày đường.

Sau đó, nàng ngẩng đầu nhìn, lòng không khỏi chấn động.

Từ tấm bản đồ này, từ lời Hàn Nghi, nàng biết được thiên hạ rộng lớn không chỉ có những nơi được vẽ trên tấm nỉ; sông ngòi nhiều vô số, không chỉ có thượng hạ lưu và các nhánh của Lạc Hà; người và súc vật đông đúc, không chỉ quanh quẩn trong gang tấc; sử xanh dày nặng, càng không phải chuyện một sớm một chiều có thể nhìn thấy toàn cảnh.

Trên đầu là tinh tú ngàn năm, dưới chân là tro lạnh muôn thuở.

Lần đầu tiên nàng đặt mình giữa muôn hình vạn trạng của thế gian, cảm nhận được sự tồn tại cũng như nhỏ bé của chính mình.

Nhưng không phải tất cả nữ hài đến hậu viên đều giống nàng, có hứng thú với những chuyện dường như chẳng có tác dụng gì, lại cách bản thân xa thật xa này.

Khi Hàn Nghi nắm tay Tiểu Chiêu chỉ cho nàng nhận biết tấm bản đồ, mọi người đều buồn ngủ díp mắt, đợi Hàn Nghi nói xong, nhắc đến chuyện gần đây, họ mới lập tức sôi nổi hẳn lên.

“Nữ công tử, phủ quân khi nào lại bàn hôn sự cho người?”

“Hà thị lần trước xem mắt hình như bị liên lụy vào vụ phản loạn rồi, nhưng công tử Tề thị cũng không tệ, rất xứng đôi với nữ công tử.”

“……”

Hàn Nghi cười rồi giải tán mọi người, chỉ để lại Tiểu Chiêu vẫn còn đầy bụng thắc mắc.

“Ngươi muốn biết đám loạn binh ở quê ngươi đến từ đâu sao? Chuyện này e phải nói rất lâu.”

“Nếu ngươi muốn nghe, vậy được thôi……”

Hàn Nghi giảng cho nàng gần hai canh giờ, có vài lời tuy nàng không hiểu nhưng vẫn ghi nhớ thật kỹ trong đầu.

Khi đương kim thiên tử đăng cơ, thân thể vốn yếu lại nhiều bệnh, may có một vị Ôn hoàng hậu vô cùng tài cán thay người nhiếp chính. Hoàng hậu nắm nội đình suốt mười năm, bốn biển thái bình, sử gọi là “Nghi Phong chi trị”.

Chỉ tiếc cảnh tốt chẳng dài lâu, hoàng hậu vì lao tâm lâu ngày đột nhiên mắc bệnh nặng, qua đời vào cuối năm Nghi Phong thứ mười.

Hoàng thành lập tức bùng nổ chính biến, chính biến kéo dài nửa năm, trưởng nữ Thủy Ninh của hoàng hậu bị lưu đày đến đất phong, trữ quân bị đầu độc mù mắt, bệnh tình thiên tử càng thêm trầm trọng. Lương Vương thống lĩnh cấm vệ nhân cơ hội nhiếp chính, khiến chư vương bất mãn, thiên hạ chấn động.

Từ đó biên cương và các phiên quốc liên tiếp xuất hiện quân phản loạn. Trong triều thế gia chuyên quyền, mạnh ai nấy làm, không đủ sức trấn áp, cung cấm lại thường xuyên nội loạn, bên trong tường cung, lòng người nơm nớp bất an.

Tranh đấu vốn chưa vạ đến dân thường, chỉ là thời vận không may, lại gặp đúng đại hạn, chư vương nhân đó liên tục chỉ trích Lương Vương vượt phận lạm quyền, chọc giận trời cao.

Cuối cùng vào năm Nguyên Khang thứ hai, Phù Phong Vương Phùng Bằng dựa vào lực lượng Hồ binh, không nhận chiếu triệu đã từ đất phong tiến thẳng vào Lạc Dương, giết Lương Vương rồi thay thế vị trí của hắn.

Hắn dọc đường đốt giết cướp bóc để sung làm quân dụng, khiến vùng phía tây Lạc Thủy máu chảy thành sông.

Nạn đói và binh lửa bắt đầu gặm nhấm chúng sinh, chẳng biết đến ngày nào mới dừng lại.

Nghe đến đây, Tiểu Chiêu không khỏi siết chặt ngón tay.

Chính quân đội dưới trướng vị Phù Phong Vương này…… đã đi qua quê hương nàng.

Sau khi giết Lương Vương, Phùng Bằng ngang nhiên giả chiếu phụ chính, độc đoán chuyên quyền, còn ra sức vơ vét của cải ở Lạc Dương. Phùng Bằng mở tiền lệ, chư vương đều muốn bắt chước, chỉ là tư binh Phù Phong hung tàn hiếu chiến, không nắm chắc phần thắng thì không ai dám manh động.

Sau một năm nơm nớp lo sợ, mấy vị đại thần trong thành liên kết với Triệu Vương đang rục rịch, lấy vụ cháy Vũ Khố làm tín hiệu, khởi binh ép cung, mong “thanh quân trắc”.

Kế hoạch thất bại.

Thuộc hạ của Triệu Vương mật báo, việc khởi sự bị Phùng Bằng phát giác, kịp thời trấn áp.

Đây là cuộc binh biến lớn nhất ở Lạc Dương trong mấy năm qua. Sau đó, Phùng Bằng nổi trận lôi đình, tất cả những kẻ tham dự đều bị tru di cả tộc. Không ít triều thần từ quan, đưa cả gia đình trở về quê cũ.

Trận hỏa hoạn ở Đông Uyển chính là kết quả của cuộc binh biến này.

Chủ nhân Đông Uyển là Lăng thị Tân Đô, Lăng thị là hậu duệ công thần khai quốc, Lăng công có chiến công hiển hách, lại vì nắm giữ vùng tây nam nên giàu ngang quốc gia, Phùng Bằng đã nhòm ngó từ lâu. Sau biến loạn của Triệu Vương, Đông Uyển vô cớ bốc cháy, lửa thiêu suốt nửa đêm, về sau Phùng Bằng lấy cớ truy lùng dư đảng, cướp sạch những gì còn sót lại trong tàn tích.

Lăng công chết trong Đông Uyển, con cháu Lăng thị đều nhờ trận hỏa hoạn này mà được thăng quan tiến tước, để tỏ rõ “thiên ân” mênh mông. Còn ngọn lửa ấy rốt cuộc do quân phản loạn của Triệu Vương châm, hay do Phùng Bằng tự biên tự diễn, không ai truy xét kỹ, cũng chẳng ai dám truy xét.

Sau khi trấn áp Triệu Vương, Phùng Bằng càng không kiêng dè. Tự phong Đại Tư Mã, Thị Trung, Trì Tiết, được mang kiếm đi giày lên điện, khi xướng danh hành lễ không gọi tên, quyền thế hiển hách, còn hơn cả Đổng Trác năm xưa vào triều.

“Không ai biết thái bình còn kéo dài được bao lâu, cũng chẳng biết có một ngày ngọn lửa sẽ cháy đến trước cửa nhà mình hay không.”

Hàn Nghi nói xong, hồi lâu không lên tiếng, thấy Tiểu Chiêu cau chặt mày liền cười một tiếng: “Nhưng Tiểu Chiêu cứ yên tâm, phụ thân là người khéo đưa đẩy nhất, tuyệt đối sẽ không rước họa vào thân.”

Tiểu Chiêu lại nói: “Nữ công tử cũng không cần lo lắng, trạch viện Hàn thị tường cao hào sâu, lại có gia binh, thật sự có hỏa hoạn cũng có thể dập tắt ngay.”

Hàn Nghi bật cười: “Phải……”

Nàng vuốt bản đồ thở dài, rất lâu mới hoàn hồn, chuyển đề tài, kể cho Tiểu Chiêu một chuyện thú vị.

Đêm Vũ Khố và Đông Uyển bốc cháy, Quảng Nhuận Tự ở ngoại ô phía tây cũng không rõ nguyên do mà cháy mất tiền viện. Chính điện không tổn hại chút nào, lửa lớn thiêu sạch cỏ thơm trước bậc, để lộ rất nhiều mảnh đá vùi nửa dưới đất.

Trong cung cho người đào lên ghép lại, phát hiện những mảnh đá ấy lại là một tấm bia cổ. Chữ trên bia mờ nhòe, Phùng Bằng tuyên bố đây là điềm lành, ban chiếu nói ai giải được sẽ thưởng ngàn vàng, khiến phương sĩ, thầy tướng khắp hải nội đều đổ về Lạc Dương.

Tiểu Chiêu nghe đến đây không khỏi nói: “Bọn họ hẳn phải đoán chuẩn hơn những thầy tướng dân gian chứ, năm xưa có một thầy tướng thấy tiền sáng mắt, nói với a phụ rằng sau này ta có thể làm nên chuyện kinh thiên động địa, toàn là lừa người.”

Hàn Nghi cuối cùng cũng vui hẳn lên, cười gập cả người: “Chưa chắc là lừa ngươi, ai nói sau này Tiểu Chiêu không thể làm nên chuyện kinh thiên động địa?”

Trước khi rời đi, Tiểu Chiêu hỏi Hàn Nghi: “Từ khi ta vào phủ, thư hội hậu viên đã tổ chức ba lần, nhưng A Diệu và mọi người đều không thích nghe, nữ công tử hà tất lần nào cũng gọi họ tới?”

Hàn Nghi ngồi ngay ngắn, nhìn ra ngoài cửa, nhất thời không trả lời.

Gió đầu thu thổi tới, làm tóc mai nàng bay lên. Tiểu Chiêu xuyên qua những sợi tóc xanh rối loạn nhìn vào mắt nàng, còn chưa nhìn ra điều gì, nàng đã quay đầu, mỉm cười đáp: “Các nàng từ nhỏ đã lớn lên trong phủ Hàn thị, cho dù không lớn lên ở đây, những điều cha mẹ dạy, những gì tai nghe mắt thấy quanh mình cũng đều là cưới hỏi ma chay, hầu hạ chủ nhân, không thích nghe cũng rất bình thường. Ta nói nhiều, rồi cũng sẽ nhớ được, dù chỉ nhớ được một chút cũng tốt…… Huống hồ, chẳng phải ngươi rất thích nghe sao?”

—-

Ở cùng nhau lâu ngày, Tiểu Chiêu phát hiện nữ hài được Hàn Nghi “nhặt về” trong phủ không chỉ có mình nàng. Mọi người vì đói khát, binh loạn, mất người thân mà lưu lạc bên ngoài, nàng ra tay cứu giúp, dẫn những nữ hài hợp ý trở về tận tâm dạy dỗ. Ban đầu còn có người nghi nàng có dụng tâm không trong sáng, nhưng theo thời gian, những lời nghi ngờ ấy cũng dần lặng lẽ tan biến.

Chỉ là phụ thân Hàn Nghi, Hàn Trung, không thích nàng làm vậy, đối với chuyện nàng ra ngoài phát cháo cũng khá bất mãn, cho dù nàng chỉ dăm ba lời đã hóa giải một trận bạo loạn, Hàn Trung cũng không hề khen lấy một câu.

“Nữ tử phải dịu dàng đoan trang, biết giữ thân phận, con thu nhận tiện dân trong phủ thì thôi, còn ăn nói hành xử không đúng mực. Nếu con an phận thủ thường, ở lại khuê các chờ xuất giá, tên thích khách có thù với Hàn thị sao có cơ hội ra tay với con! Ban đầu vốn không nên cho con đọc sách biết chữ, học hết thói trái kinh phản đạo của mẫu thân con, cứ như vậy, còn gia tộc nào chịu bàn hôn sự với con?”

Hàn Nghi quỳ trước gia từ một canh giờ, Tiểu Chiêu cõng nàng trở về, cùng nàng ngồi dưới hành lang ngắm cảnh thu trong vườn.

“Tiểu Chiêu, gần đây ngươi học gì rồi?”

“Gần đây đang học kéo cung bắn tên, lúc ta mới đến bọn họ chê ta là nữ lang, không chịu dạy ta, sau đó ta đánh với mọi người mấy trận thì được rồi. Thống lĩnh còn nói căn cốt ta tuyệt hảo, lại có nền tảng, là hạt giống tốt.”

“Tốt thật, ngươi có mang kiếm không? Có thể múa kiếm cho ta xem không?”

“Được!”

Để Hàn Nghi vui hơn một chút, Tiểu Chiêu không dùng những chiêu thức mộc mạc mà mình quen nhất, cố ý phô diễn một vài chiêu hoa mỹ. Thanh kiếm mới của nàng là cổ vật Hàn Nghi tìm được trong kho, đã tồn tại trăm năm, kiếm quang lại chói mắt như điện.

Giữa mùa thu, lá rụng chất đầy trong vườn, ngân hạnh như dát vàng, phong diệp tựa lửa đỏ rực. Kiếm khí cuốn tung từng tầng lá rụng, Tiểu Chiêu vô cùng chuyên tâm, mãi lâu sau mới nhìn rõ vẻ mặt của Hàn Nghi sau màn lá bay đầy trời.

Lần này nàng đã nhìn rõ đôi mắt ấy.

Hàn Nghi chăm chú nhìn nàng, lại như chẳng hề nhìn nàng, ánh mắt hiếm khi không có lấy một chút ý cười, trái lại mang một vẻ trống rỗng tịch diệt. Tiểu Chiêu thu kiếm, khom người ngồi xuống trước mặt nàng, còn chưa ngẩng đầu đã cảm thấy có giọt nước mắt rơi lên mu bàn tay mình.

Nàng hơi luống cuống hỏi: “Nữ công tử, người khóc sao?”

Nước mắt trượt xuống, Hàn Nghi lại bật cười: “Ta khóc sao, chính ta cũng không biết.”

Tiểu Chiêu còn chưa kịp nói, Hàn Nghi đã nói: “Ngươi múa kiếm thật đẹp, nếu không phải từ nhỏ thân thể yếu, a phụ lại không cho phép, ta cũng muốn học chút công phu đao kiếm.”

Tiểu Chiêu nói: “Không chỉ có đao kiếm, binh khí trên đời nhiều vô số, loại nhẹ nhàng còn nhiều hơn, ngày nào rảnh rỗi, ta sẽ tự tay rèn cho nữ công tử một món.”

“A Diệu và mọi người đều rất thích ngươi, nói ngươi biết kể chuyện, còn biết rất nhiều thứ kỳ lạ, không ngờ ngay cả cái này ngươi cũng biết?”

“Ta biết nhiều lắm, đâu chỉ có thứ này!”

Hàn Nghi chống tay, thất thần nói: “A mẫu mất vì khó sinh khi sinh muội muội, muội muội vừa lọt lòng cũng đã tắt thở. Nếu nó có thể sống sót, giống như ngươi thì tốt.”

Sau đó, vì Tiểu Chiêu biết nhiều chữ, ngoài lúc luyện tập thường xuyên đến thư phòng Hàn Nghi. Hàn Nghi dẫn nàng đến tiểu các nơi tộc học, lén lấy sách mang về đọc.

—— Sở dĩ phải lén lấy sách là vì sách vở trong tộc học hoàn toàn khác với những gì bày trong thư phòng Hàn Nghi. Trong thư phòng nàng có 《Nữ Giới》, còn có 《Thi》, 《Lễ》 và đủ loại cổ thi chương cú Tiểu Chiêu từng đọc ở Đông Uyển, còn trong tộc học ngoài những thứ ấy ra lại có kinh Nho, Đạo, Phật, sử sách lưu truyền, binh pháp mưu lược.

Tiểu Chiêu vừa lật sách vừa cảm thán: “Ta chưa từng biết, hóa ra ‘đọc sách’ cũng có phân biệt.”

Hàn Nghi cũng nói: “Chỉ vì ta là nữ tử, a phụ liền chỉ muốn ta đọc lễ nghi phép tắc, phong hoa tuyết nguyệt, người và giáo tập, chủ nhân trước kia của ngươi có gì khác nhau? Những kẻ ở trên trong thiên hạ đều chẳng có gì khác biệt.”

Sau này chuyện lén lấy sách bại lộ, Tiểu Chiêu đứng ra nhận tội thay, bị Hàn Trung sai người đánh mười côn, lần sau vẫn lén lấy như cũ.

Hàn Nghi nửa đêm bôi thuốc cho nàng: “Ai bảo ngươi nhận tội thay ta, đây cũng là đạo lý ngươi học được trong sách sao?”

Tiểu Chiêu đau đến nhe răng trợn mắt: “Đâu phải chỉ mình ngươi lấy trộm, hơn nữa, xuất phát sau mà đến trước, lấy đường vòng làm đường thẳng, không đánh quân tinh nhuệ —— là đạo lý chúng ta cùng nhau học được.”

Hàn Nghi trừng mắt nhìn nàng, đang khóc lại bật cười.

—-

Tiểu Chiêu sống trong phủ Hàn thị qua hai cái Tết, lại một mùa xuân đến, nàng tròn mười ba tuổi, vóc dáng như cành cây rút nhanh lên cao, trước kia còn thấp hơn Hàn Nghi một chút, giờ đi theo sau nàng đã có dáng vẻ đáng tin cậy đến mức ngay cả thống lĩnh phủ binh cũng không bắt bẻ được.

Dù sao sau khi vào phủ, nàng quả thực không còn phải chịu đói nữa.

Hàn Nghi không nuốt lời, phủ Hàn thị kiên cố yên ổn. Trong hậu viên, ngay cả thân phận, quy củ, lễ nghi, sang hèn dường như cũng trở nên mơ hồ, nàng không bao giờ còn nảy sinh nỗi sợ hãi “sáng không giữ nổi tối”.

Chỉ có một ngày, nàng thay A Diệu đi lấy thức ăn cho Hàn Nghi, đi ngang bên tường chính đường, nghe thấy tiếng nhạc du dương, hỏi ra mới biết có thiếu niên hoàng tộc, công tử sĩ tộc đến tìm mấy vị huynh trưởng của Hàn Nghi.

Tiểu Chiêu tò mò, lén nhìn một cái qua cánh cửa hé mở.

Mọi người quây quần trước sạp, vạt áo hé mở, eo gầy thắt lỏng, mặt tô phấn còn trắng hơn Hàn Nghi. Trong sảnh hương rượu thơm nồng, có người tấu nhạc, có người múa, có người biện luận, lại có người nằm bên chiếu, chẳng biết đang hút thứ gì, cả người lâng lâng như tiên. Tiểu Chiêu vừa khéo chạm mắt người ấy, giật mình, nào ngờ đối phương ánh mắt mơ màng, căn bản không nhìn thấy nàng.

Nàng kể những gì mình thấy cho Hàn Nghi, Hàn Nghi dặn nàng tránh xa đám người này một chút, bọn họ lúc say rượu lấy múa kiếm giết người làm vui, giết người rồi còn không nhớ, rất đáng sợ.

Hàn Nghi còn nói: “Ngươi đừng học theo bọn họ, gầy đến chỉ còn da bọc xương, bình thường ăn nhiều một chút, chớ kiêng thịt cá, ăn không no thì lấy đâu ra sức múa kiếm?”

Tiểu Chiêu rất tán đồng.

Thuở nhỏ nàng đã vì sức lực lớn mà được mọi người trong thôn khen ngợi, trên đường từ quê nhà chạy nạn đến Lạc Dương, bụng đói cồn cào, nếu không nhờ trước kia thân thể cường tráng, nàng và a mẫu đã sớm trở thành xương trắng ven đường.

Lại có một ngày, Hàn Nghi dẫn Tiểu Chiêu đến ngoại quách phía tây phát cháo.

Nghe nói tấm bia đá vỡ ở Quảng Nhuận Tự vẫn chưa có ai giải được, nhưng ai có thể nhờ việc này khiến Đại Tư Mã vui lòng thì sẽ nhận được ban thưởng hậu hĩnh, thậm chí có người một bước lên trời, thăng quan tiến tước. Phương sĩ trong thiên hạ nghe tin, đến nay vẫn không ngừng kéo đến Lạc Dương.

Hôm ấy sau khi phát hết cháo, Tiểu Chiêu cùng Hàn Nghi đi về chiếc xe đỗ cách đó một tầm tên, lại bị một người mặc áo vải thô màu nâu chặn giữa đường, người nọ tự xưng là thầy tướng sa cơ, xin nàng thức ăn.

Tuy nhìn hắn không giống người chịu đói, Tiểu Chiêu vẫn lấy một chiếc bánh mang theo bên người ném cho hắn. Thầy tướng nhận bánh nhưng không ăn, chỉ chăm chú nhìn Tiểu Chiêu nói: “Được nữ lang ban ân, ta có vài lời muốn nói với ngươi.”

Hàn Nghi khá hứng thú: “Lời gì?”

Thầy tướng quay đầu nhìn nàng một cái, bỗng lắc đầu, tự mình thở dài: “Tuổi xuân niên thiếu, hồng nhan xương trắng, đáng tiếc, đáng tiếc thay.”

Nụ cười trên mặt Hàn Nghi cứng lại, Tiểu Chiêu nghe ra chẳng phải lời hay, kéo nàng định rời đi, Hàn Nghi lại đứng yên không nhúc nhích: “Nghe hắn nói hết.”

Thầy tướng đưa tay chỉ vào trán Tiểu Chiêu, chăm chú nói: “Nữ lang khí sắc nhợt nhạt, ánh mắt sâu thẳm, một đời ắt nhiều tang phục khóc thương, đa tình đa nghi; lại có lông mày cao mà đứt quãng ở giữa, chủ về ân hóa thành thù, góa bụa cô độc. Đây chính là tướng cô khắc đệ nhất thiên hạ, người thân cận yêu thương phần nhiều gặp trăm tai. Ngàn năm cô quạnh, muôn năm một thân!”

Hàn Nghi lạnh lùng cắt ngang: “Toàn lời xằng bậy.”

“Thế nhưng ——”

Hắn không để ý nàng, ngay cả ánh mắt cũng chẳng dời đi một chút: “Giữa mày mắt ngươi có tử khí quẩn quanh, ánh mắt đoan chính không nghiêng lệch. Long mục phượng tình này rõ ràng là tướng đại quý, lại thấy đuôi mày sắc bén, ánh mắt tuy sâu mà như tôi qua lửa, chủ về xông pha sát phạt; thần thái sáng rực, trông uy nghi lẫm liệt, ắt trường thọ vô bệnh, thiên lộc hưởng đến cuối đời.”

Không đợi Hàn Nghi lại mở lời, Tiểu Chiêu đã “xoẹt” một tiếng rút bội kiếm bên hông, chỉ thẳng vào cổ thầy tướng, cười nhạo: “Ăn nói xằng bậy, trước sau không thông, nếu ta trường thọ vô tai, sao lại ngàn năm cô quạnh? Muốn xin thưởng thì cứ xin thưởng, yêu ngôn mê hoặc lòng người, chẳng lẽ còn có dụng tâm khác?”

Hai năm nay nàng ăn no, ngủ yên, cao lên không ít, vẻ bi thương và co rúm do mất song thân trước kia chẳng biết từ lúc nào đã quét sạch. Hàn Nghi nhìn theo hướng trường kiếm, dưới ánh mặt trời, nữ lang buộc cao đuôi ngựa, mái tóc ngả vàng mặc gió tung bay, đôi mắt sáng ngời sắc bén, mang theo nhuệ khí của thiếu niên giống hệt kiếm khí khi tuốt khỏi vỏ.

Ngọn lửa được tôi luyện giữa đao thương kiếm kích, thắp sáng những trang sách bất hủ trên thẻ tre sách lụa, vậy mà lại hun đúc thành dáng vẻ thế này.

Sắt lạnh kề cổ, lạnh lẽo ghê người, thầy tướng lại nhấc nhấc chiếc bánh trong tay, tự mình nói: “Sau này ngươi nên giống hôm nay, thường xuyên thương người nghèo, cứu kẻ cô độc, tích thêm phúc đức, đợi thêm thời gian……”

Nói đến đây, hắn chợt sực tỉnh, cười rồi búng lên kiếm nàng: “Nữ lang nói ta trước sau không thông, có gì không thông? Tang phục là tang phục của người khác, trường thọ lại là trường thọ của chính mình. Ta đêm xem thiên tượng, Thái Bạch ngang trời, sao mới sáng lên ở bờ bắc Lạc Thủy, không ngờ……”

Hắn lùi lại một bước, tránh mũi kiếm của Tiểu Chiêu, giơ tay cắn một miếng bánh, vậy mà xoay người bỏ đi, ngay cả lời cũng chưa nói hết.

Tiểu Chiêu định đuổi theo, bị Hàn Nghi cản lại: “Nữ công tử, một đống lời điên khùng của hắn……”

Hàn Nghi nói: “Thôi, người thông hiểu thiên cơ thường có tính tình cổ quái, mặc hắn đi.”

Nàng lại quét mắt một vòng, lạnh giọng nói với mấy thị nữ và gia đinh xung quanh: “Những lời hôm nay, một chữ cũng không được tiết lộ ra ngoài.”

Mọi người hiếm khi thấy nàng nghiêm nghị như vậy, đồng loạt đáp: “Vâng.”

Ban đêm Hàn Nghi không ngủ được, gọi Tiểu Chiêu đến trò chuyện. Tiểu Chiêu cầm giá nến, nằm sấp bên giường nàng, nghe nàng hỏi: “Tiểu Chiêu, ngươi có tin thiên mệnh không?”

Tiểu Chiêu ngáp liên tục, lắc đầu.

“Ngươi không tin?”

“Ta không biết, thứ huyền diệu khó lường như vậy cách ta quá xa, vì sao ta phải tin, hoặc không tin?”

Hàn Nghi im lặng hồi lâu, đến khi muốn mở miệng lần nữa, Tiểu Chiêu đã nghiêng người bên cạnh nàng rồi ngủ mất.

Nàng kéo góc chăn đắp kín cho Tiểu Chiêu, từ dưới gối lấy ra một miếng ngọc bội Tứ Tượng Bàn Ly lạnh ngắt.

Hàn Nghi nắm chặt ngọc bội, ngồi ngẩn người rất lâu. Ngoài cửa sổ bỗng nổi mưa bụi, một cơn gió dữ ùa vào, thổi tắt ánh nến lay lắt ngoài màn sa.

Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)

Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.

Gửi phản hồi