Kho truyện
Cỡ chữ Nền Mục lục
Chớp Mắt Nhân Gian Hai Mươi Mùa Xuân

Chương 9: Triều Ngọc Giai (3) — Lòng từ bi tái nhợt

Đăng ngày 30/09/2026

Thực ra vào khoảnh khắc ấy, điều Tô Úc Nghi nghĩ đến là quãng thời gian nàng sống ở Chiết Giang vào hai năm đầu sau khi đỗ Cử nhân.

Khi ấy là những năm cuối Hưng Bình, nàng cùng một nhóm cô nương trạc tuổi học trong một thư viện. Lúc đó Thái hậu nương nương vừa mới truyền ra tin muốn tuyển nữ tiến sĩ, bọn họ đều là nhóm nữ sinh đầu tiên của thư viện.

Khi ấy một đám cô nương tụ lại với nhau, trong lòng nghĩ đều là sau này phải dựa vào bản lĩnh của chính mình thế nào để mưu một tiền đồ tốt đẹp.

Phần lớn bọn họ đều là những cô gái xuất thân từ gia đình bình thường, ai nấy cắn chặt răng không chịu thỏa hiệp với cha mẹ, tông trưởng, nhưng rồi từng người một lại bị người nhà hoặc ép buộc, hoặc khóc lóc cầu xin mà đưa ra khỏi thư viện.

Những nữ tử đã được đọc sách phần lớn đều không muốn một lần nữa bị giam hãm dưới những bức tường cao, nhưng lại không thể trái lời trước sự uy hiếp dụ dỗ của cha mẹ.

Con đường khoa cử này càng đi lên cao, nữ tử lại càng ít.

Nữ cống sinh được tuyển chọn từ các châu huyện vào Quốc Tử Giám cũng chỉ có ba người. Nữ tiến sĩ có thể từ địa phương thi lên giống Úc Nghi, chỉ có một mình nàng mà thôi.

Nàng không biết trang điểm, cũng không có tiền, càng không có tâm tư để trang điểm.

Nàng chỉ biết phải dùng số tiền ít ỏi mua thêm nhiều sách hơn, nhiều bút mực hơn.

Trước khi một nữ Cử nhân thân thiết với nàng buộc phải rời khỏi thư viện, hai người từng trò chuyện suốt một đêm.

Nàng ấy nói: “Úc Nghi, vì sao thế đạo này chỉ dạy nữ nhân tô son điểm phấn? Vì sao ca ngợi một đôi phu thê lúc nào cũng phải dùng bốn chữ ‘lang tài nữ mạo’? Cho dù có mỹ mạo thì đã sao, chẳng qua cũng chỉ trở thành một món đồ trang trí mà nam nhân bày trong phủ trạch. Mỹ mạo có ích với nam nhân, nhưng đối với chính chúng ta thì có ích gì? Quyền thế mới là chỗ dựa của cô. Khi cô có quyền thế, mỹ mạo mới là gấm thêu thêm hoa. Nếu không có gì trong tay, vẻ đẹp ấy chỉ có thể khiến cô phải dựa vào nam nhân mà sống.”

Nữ Cử nhân nước mắt ròng ròng, nắm chặt tay Úc Nghi không chịu buông: “Nếu ta cũng có thể giống cô, tiếp tục thi lấy công danh thì tốt biết bao. Ta thi đến Chiết Giang, không biết đã bỏ ra bao nhiêu tâm sức, bao nhiêu cố gắng. Giờ cha mẹ ép ta trở về lấy chồng, mười năm tâm huyết của ta coi như đều uổng phí. Chỉ mong cô có thể bay thật cao, bay thật xa, chỉ mong cô có thể khiến tất cả chúng ta không còn phải sống những ngày tháng thân bất do kỷ như thế này nữa.”

Về sau Úc Nghi cứ thế nghiến răng từng bước đi lên, còn nữ Cử nhân ấy lại không còn truyền ra bất kỳ tin tức nào nữa.

Không biết hiện giờ nàng ấy sống có tốt hay không, càng không biết còn ở trên đời hay không.

Úc Nghi nghĩ mãi, suy nghĩ bất giác bay xa. Đến khi hoàn hồn lại, nàng mới phát hiện mình đã đi khỏi nơi người người chen chúc náo nhiệt ở tiền viện Thừa Ân Tự, men theo bậc đá tới bên rừng trúc ở hậu viện.

Nơi đây trúc biếc như sương, thanh tĩnh cách xa người đời, ngoài một con đường sâu hun hút ra chỉ còn tiếng chim trong trẻo.

Hôm nay hiếm khi trời quang, trong rừng trúc thỉnh thoảng còn thoảng qua hương tùng.

Úc Nghi đi vòng quanh rừng trúc mấy chục bước, đối diện có một phụ nhân vẻ mặt vội vã đi tới.

Nàng búi tóc đen cao, mày mắt diễm lệ, nhìn qua chỉ chừng hai mươi lăm hai mươi sáu tuổi, mặc áo đối khâm nền lam bảo thêu hoa đoàn chữ vạn màu xanh quạ, trên đầu cài một đôi trâm phù dung liền cành, dung trang ung dung tinh xảo, vừa nhìn đã biết không phải phu nhân nhà bình thường.

Vừa nhìn thấy Tô Úc Nghi, phụ nhân kia như trút được một hơi: “Vị cô nương này, ta từ hậu sơn đi xuống, không ngờ lại đi lạc với người hầu trong nhà. Có thể hỏi cô một câu không, đường về tiền viện có phải đi từ đây không?”

Úc Nghi gật đầu: “Từ đây đi xuống thêm chừng một khắc nữa sẽ nhìn thấy bảo đỉnh của chính điện.” Nàng ngẩng đầu nhìn sắc trời, nghĩ cũng sắp đến giờ Ngọ, sợ lát nữa Tào Sầm sẽ tới tìm mình, bèn dứt khoát nói: “Ta đi xuống núi cùng phu nhân vậy.”

Mỹ phụ nghe vậy mừng rỡ: “Như thế thật sự đa tạ cô nương.”

Đường núi gập ghềnh quanh co, cỏ xanh phủ lên bậc đá. Phụ nhân rõ ràng đã sống an nhàn sung sướng lâu ngày, đi đường lâu một chút đã có phần mệt mỏi, bước chân cũng dần rối loạn. Úc Nghi giơ tay đỡ lấy cánh tay nàng: “Đường trơn, để ta đỡ phu nhân.”

Phụ nhân vỗ nhẹ tay Úc Nghi: “Thật sự làm phiền cô rồi.”

Thấy Úc Nghi nói năng nhỏ nhẹ, trong lòng càng cảm thấy nàng dễ gần, bà không khỏi trò chuyện đôi câu: “Nghe khẩu âm, cô nương dường như không phải người kinh thành, ngược lại có chút giọng phương Nam.”

Úc Nghi gật đầu: “Ta là người Tùng Giang, cuối năm ngoái mới tới kinh thành.”

Phụ nhân nghe vậy mỉm cười: “Tùng Giang là nơi địa linh nhân kiệt, quả nhiên cô cũng lớn lên duyên dáng thanh tú. Đến Thừa Ân Tự cầu nhân duyên sao? Nhân duyên ở đây linh lắm.”

Úc Nghi chuyên tâm nhìn đường: “Chỉ tới dạo một chút, cũng không có ý cầu nhân duyên.”

Phụ nhân hơi kinh ngạc: “Lúc bằng tuổi cô, ta đã sớm thành thân rồi.”

Nói tới đây bà lại dừng một chút, giọng trở nên buồn bã: “Cô nói cũng phải, thành thân sớm thì có tác dụng gì. Lần này ta tới là để cầu con. Ta và phu quân đã thành hôn năm năm, đến nay dưới gối vẫn không có con. Hai năm trước phu quân ta còn chưa nói gì, mấy năm gần đây lại lần lượt nâng người vào nhà. Nhưng cũng kỳ lạ, năm sáu vị thiếp thất ấy đều không có con. Mẹ chồng lại thúc giục gấp, cho nên cách vài hôm ta lại phải đến Thừa Ân Tự cầu một lần.”

Úc Nghi không giỏi đáp lại những lời như vậy, may mà phụ nhân kia lại tiếp tục lên tiếng: “Giờ ta lại rất ngưỡng mộ những cô nương tự do tự tại như các cô, không bị ai trói buộc, làm gì cũng có thể theo tâm ý của mình.”

Trong lúc hai người trò chuyện, mái lưu ly của chính điện Phật tự đã xuất hiện trước mắt, dưới ánh mặt trời rực rỡ phản chiếu ánh sáng huy hoàng chói mắt. Mấy người trông như tôi tớ đang sốt ruột chờ trước cửa chính điện, vừa nhìn thấy mỹ phụ kia đều thở phào một hơi.

Cả đám luống cuống vây phụ nhân vào giữa: “Vương phi nương nương, thật sự làm đám nô tài sốt ruột chết mất.”

Lương Vương phi nắm tay Úc Nghi không buông: “Đứa trẻ ngoan, thật sự đa tạ cô. Nếu không có cô, chỉ e ta còn phải vòng vèo mấy canh giờ mới xuống được núi.” Thấy Úc Nghi ăn mặc giản dị, không giống quý nữ nhà nào, bà bèn ra hiệu cho người hầu lấy ít bạc tới: “Chút lòng thành này mong cô nhận lấy, coi như ta mời cô uống một chén trà.”

Úc Nghi nghe vậy từ chối: “Không phải chuyện gì đáng kể, nương nương quá khách sáo rồi.”

Ngay từ lúc nghe người hầu gọi bà là Vương phi, Úc Nghi đã có ý muốn tránh xa. Trong số các Thân vương chưa đi phiên trong triều hiện giờ chỉ có ba vị, mà người đã thành hôn chỉ có một mình Lương Vương.

Từ sau khi Thiếu đế đăng cơ, mấy vị hoàng thúc đều không yên phận như vẻ ngoài, mà vị Lương Vương này càng là người gốc rễ sâu rộng, khó đối phó. Khi Tiên đế còn tại thế cũng từng cân nhắc lập Lương Vương làm Thái tử, chỉ tiếc Lương Vương mãi không có con, Hoàng đế mới từ bỏ ý định để hắn kế thừa đại thống.

Tô Úc Nghi vừa mới vào kinh sư, lại một lòng tính toán tìm đường đến bên cạnh Thái hậu. Vào thời điểm này nếu bị người có lòng nhìn thấy nàng và Lương Vương phi âm thầm qua lại nhận đồ của nhau, chỉ sợ tiền đồ của nàng sẽ bị chặt đứt.

Lương Vương phi thấy nàng không nhận, trong lòng cũng có chút kỳ lạ. Chẳng lẽ cô gái trước mắt sau khi biết thân phận của bà lại nảy sinh tâm tư không nên có, muốn được nhiều lợi ích hơn hay sao?

Hai người còn chưa kịp nói thêm mấy câu đã thấy Tào Sầm vòng ra từ sau Tĩnh Viễn Tháp, từ xa vẫy tay với Tô Úc Nghi: “Tô tiến sĩ, cô ở đây à!”

Lần này đến lượt Lương Vương phi kinh ngạc: “Cô chính là Tô tiến sĩ?”

Bà đã sớm nghe nói năm nay tuyển được một nữ tiến sĩ, bài thi còn do Thái hậu đích thân chọn ra. Lương Vương từng vô tình nhắc đến, nói vị nữ tiến sĩ này sau này chưa biết chừng sẽ có cơ duyên lớn, không ngờ lại chính là nữ tử trẻ tuổi mảnh mai như trúc trước mắt.

Bà cẩn thận đánh giá mày mắt Úc Nghi, chỉ thấy đôi mắt nàng đen sáng như sơn, thần thái thanh tú, cốt cách tao nhã, giữa mày lại mang vài phần thư quyển khí. Vừa rồi bà chưa chú ý, giờ nhìn lại mới cảm thấy Tô Úc Nghi quả thực có một khí chất khác hẳn nữ tử bình thường.

“Phải.” Úc Nghi ra hiệu với Tào Sầm, đồng thời hành lễ với Lương Vương phi, “Vương phi đã tìm được người hầu trong phủ, ta xin đi trước.”

“Ấy, cô chờ đã.” Nụ cười của Lương Vương phi càng thêm thân thiết, bà lấy từ trong ngực ra một tấm lệnh bài đưa cho nàng, “Rảnh thì có thể đến chỗ ta ngồi chơi. Ta là người Tô Châu, cách Tùng Giang của các cô cũng không xa. Đến kinh thành cô không thân không thích, nếu cảm thấy buồn chán thì đến chỗ ta giải khuây, được không?”

Úc Nghi thấy chỉ trong chốc lát bà đã đổi hẳn thái độ, càng hiểu rõ Lương Vương phi nhất định đã để mắt đến thân phận của nàng, lời nói càng thêm thận trọng: “Ngày thường ta ở Thứ Thường Quán, hiếm khi có dịp ra khỏi cung. Đa tạ nương nương yêu mến, chỉ là ra vào cung cấm thực sự có nhiều bất tiện.”

Lương Vương phi thấy nàng không nhận cũng không ép: “Cũng được, nếu có duyên thì nhất định còn có ngày gặp lại.” Nói xong bà khẽ vỗ tay Úc Nghi rồi dẫn người hầu đi xa. Trên người bà mang theo mùi đàn hương nhàn nhạt, ngửi vào khiến lòng người an ổn. Tô Úc Nghi không nhìn thêm, quay người đi về phía Tào Sầm.

“Vừa rồi ta cùng Hoắc Viễn bọn họ viết bảng thơ, quay người một cái đã chẳng thấy cô đâu. Cô đi đâu vậy? Người vừa nói chuyện với cô là ai?”

Hắn hỏi liền mấy câu, sau đó mới chậm chạp nhận ra mình có phần hùng hổ quá mức, không khỏi ho khẽ một tiếng: “Ta chỉ lo cô không quen đường, lại đi lạc.”

Úc Nghi thấy trán hắn hơi rịn mồ hôi, hiển nhiên hôm nay tâm trạng khá tốt: “Ta lên hậu sơn dạo một vòng. Ta không giỏi làm thơ, cho nên không ở đây bêu xấu. Vị phu nhân vừa rồi đi lạc với người nhà, ta cũng chỉ tình cờ gặp giữa đường.”

Nàng nói thản nhiên, Tào Sầm càng không nghi ngờ: “Lát nữa trong chùa có cơm chay, cô có muốn cùng nếm thử không?”

Hôm nay là mùng tám, Thừa Ân Tự cứ đến mùng tám, mười tám, hai mươi tám đều bố thí cơm chay, vì vậy những ngày này người đến dâng hương cũng đặc biệt đông. Úc Nghi vốn định nói buổi chiều còn phải trở về Thứ Thường Quán viết 《Hội Điển》, Tào Sầm đã gặp một người bạn quen. Hắn để lại một câu “lát nữa ta tới tìm cô” rồi đi mất.

Úc Nghi thở dài, thầm nghĩ hôm nay nhất định lại phải đốt đèn chép sách đến khuya.

Đúng lúc này, hậu điện của chùa bỗng trở nên hỗn loạn. Mấy Cẩm Y Vệ mặc phi ngư mãng phục đi ngược dòng người, sải bước nhanh về phía sâu trong chùa, hiển nhiên là muốn bắt người. Bội đao bên hông họ vô cùng bắt mắt, mang theo vài phần uy thế khiến người ta sợ hãi.

Đám đông có phần hoảng loạn, thỉnh thoảng vang lên vài tiếng kinh hô khe khẽ. Khách hành hương qua lại chỉ cần sơ ý một chút đã va vào Úc Nghi mấy lần.

Đúng lúc ấy, phía sau nàng khẽ vang lên một tràng tiếng bước chân.

Một người không tiếng động chắn Úc Nghi ra sau lưng.

Trương Trạc không mặc quan phục, trên người khoác một chiếc áo choàng lông chồn trắng, để lộ một đoạn tay áo trực xuyết bằng lụa Hàng Châu màu xanh đá.

Chỉ đứng ở đó thôi cũng khiến người ta vô cớ cảm thấy một luồng áp lực.

Trương Trạc xoay người lại, bốn mắt nhìn nhau.

Muôn tiếng lặng giữa non cao, một vì sao rơi xuống mặt nước.

Khi ấy, Úc Nghi vẫn luôn không hiểu được nét u buồn tái nhợt nơi đáy mắt chàng.

“Trương đại nhân.” Tô Úc Nghi hành lễ với chàng, Trương Trạc gật đầu, đưa tay hờ đỡ nàng.

Xung quanh người người chen chúc, Trương Trạc lại tựa như đang nhàn nhã dạo bước trong sân: “Đi cùng ta một đoạn nhé?”

Cỏ xanh ánh qua rèm, Úc Nghi theo Trương Trạc men bậc đá đi lên. Gió thổi vạt áo chàng tung lên, khiến người ta như rơi vào một giấc mộng.

Mây loạn chất như tuyết, trăng cô đơn bên mái tàn.

Sau khi rời xa chính điện, người cũng ít đi rất nhiều. Phía sau Đại Hùng Bảo Điện trồng khắp hòe, liễu và bách đông, cánh cửa ván phản chiếu sắc xanh, cành lá buông rủ rậm rạp.

Từ sau thời Hán Đường, cây hòe phần nhiều mang ý chỉ tể phụ, cũng tượng trưng cho điềm lành khoa danh. Mùa thu thi cử thường còn được gọi là “hòe thu”. Thừa Ân Tự trồng hòe khắp nơi, các sĩ tử cũng thường đến đây cầu lấy chút may mắn.

Dưới hòe liễu, màu xanh phủ như màn trướng. Hai tiểu sa di đang ngồi trên ghế thấp trông ống thẻ mà gật gù ngủ. Ánh mắt Trương Trạc rơi trên ống thẻ: “Hôm nay ta đến cầu thẻ, cô có muốn rút một thẻ không?”

Tô Úc Nghi theo sau chàng đi đến trước chiếc bàn dài trải nhung đỏ. Tiểu sa di cuối cùng cũng tỉnh táo hẳn, hướng ống thẻ về phía hai người, cười nói: “Hai vị muốn cầu thẻ gì, nhân duyên hay là…”

“Tiền đồ làm quan đi.” Trương Trạc lên tiếng trước, thế là Úc Nghi gật đầu: “Được.”

Nàng đưa tay rút một thẻ từ trong ống, không ngờ theo động tác ấy lại kéo theo một thẻ tre khác rơi ra, “cạch” một tiếng rơi xuống đất.

Úc Nghi đọc trước thẻ trong tay mình:

“Một lá vượt ngàn sông, thuyền đầy chỉ chở trăng không.”

Là một quẻ hạ.

Tiểu sa di phụ trách giải thẻ nheo mắt, cẩn thận đọc đi đọc lại thẻ tre hai lượt, mặt lộ vẻ buồn rầu: “Nửa câu đầu nói cô nương là người có đại tạo hóa, chỉ là nửa câu sau lại nói nửa đời phú quý tựa mây nổi, nửa đời như hoa trong gương, trăng dưới nước.” Hắn có lòng muốn nói thêm mấy câu cát tường để Úc Nghi quyên thêm chút tiền hương hỏa, “Nhưng cũng không đáng ngại, tiểu tăng có cách hóa giải quẻ này, cô nương có muốn nghe không?”

Úc Nghi còn chưa nói gì, Trương Trạc đã cúi người nhặt cây thẻ khác mà nàng làm rơi lên, đặt trong lòng bàn tay, khẽ đọc lời sấm phía trên:

“Phượng hoàng đậu ngô đồng, trăng sáng soi thiền quan.”

Tiểu sa di lập tức mừng rỡ ra mặt: “Đây là quẻ đại cát, chúc mừng cô nương. Thẻ của Thừa Ân Tự chúng ta linh nghiệm nhất, cây vừa rồi chắc chắn không chuẩn. Sau này cô nương nhất định sẽ có tiền đồ tốt đẹp.”

Úc Nghi bị hai bộ mặt của hắn chọc cười, lấy hết bạc vụn trong người đưa cho hắn: “Mượn lời tốt lành của tiểu sư phụ.”

Hai quẻ trước sau lại viết nên hai vận mệnh hoàn toàn trái ngược.

Vốn dĩ nàng chẳng để chuyện này trong lòng, lại phát hiện Trương Trạc hiếm khi nghiêm túc như vậy. Chàng quay sang tiểu sa di kia: “Ta cũng rút một thẻ.”

Chỉ thấy bàn tay khớp xương rõ ràng kia khẽ rút một thẻ tre từ trong ống. Úc Nghi ghé lại xem, không khỏi khẽ “a” một tiếng.

Vậy mà lại là một thẻ trống.

Cả hai mặt đều trắng không, chẳng có lấy một chữ.

Ánh mắt Trương Trạc dừng trên thẻ trống của mình, rồi lại nhìn hai cây thẻ trước mặt Tô Úc Nghi.

Từ “Một lá vượt ngàn sông, thuyền đầy chỉ chở trăng không” đến “Phượng hoàng đậu ngô đồng, trăng sáng soi thiền quan”.

Trương Trạc khẽ cười.

Chàng nói: “Thẻ này không cần giải nữa, ta đã hiểu rồi.”

Vì sao một sợi tàn hồn của chàng lại phiêu bạt nửa đời, rồi một lần nữa trở về năm đầu tiên gặp Tô Úc Nghi.

Cuộc đời và vận mệnh trống rỗng của chàng cũng giống như lời sấm trắng không một chữ trên cây thẻ tre. Sự tồn tại của chàng chính là để đưa nàng đi về nơi sáng sủa hơn, nơi ấy có ngô đồng, có thiền quan, mà đó chẳng phải cũng chính là tâm nguyện sâu kín nhất trong lòng chàng hay sao.

Đời này, so với việc oanh oanh liệt liệt khiến Tô Úc Nghi ghi nhớ chàng, bù đắp tiếc nuối yêu mà không được của hai người ở kiếp trước, Trương Trạc với thân thể bệnh tật rã rời lại càng muốn cam tâm tình nguyện làm một viên đá kê chân cho nàng thêm một lần, rồi để nàng hoàn toàn quên mất chàng.

Khoảnh khắc nghĩ thông, Trương Trạc như trút được gánh nặng.

Úc Nghi vẫn còn nói với tiểu sa di: “Đang yên đang lành các ngươi lại để lẫn cả thẻ tre chưa viết chữ vào, sao có thể sơ suất như vậy.”

“Thôi.” Trương Trạc gọi nàng lại, “Không phải lỗi của bọn họ.”

Úc Nghi quay người, nhìn chàng cũng lấy tiền hương hỏa đưa cho hai tiểu sa di.

Không biết có phải ảo giác của nàng hay không, cây cây đều nhuốm sắc thu, núi núi chỉ còn ánh chiều tà. Trương Trạc đứng nghiêng bên cạnh nàng, trên người phủ một tầng ánh vàng mỏng, giống như Phật đà trên đài cao điện vàng, giữa mày mắt mang theo một thứ từ bi tái nhợt.

Nàng không khỏi nhớ đến giấc mộng của mình, cùng Trương Trạc trong mộng tựa như bước ra từ lửa dữ địa ngục.

“Trương đại nhân đến Thừa Ân Tự chỉ để cầu thẻ thôi sao?”

Trương Trạc hơi nghiêng đầu: “Cô thấy sao?”

Úc Nghi không nghĩ ra đầu mối, Trương Trạc rũ mi mắt: “Cầu thẻ xem như một việc.”

Việc còn lại chính là bắt mấy tên Đại Già Lam âm thầm mở tiền trang kia.

“Ta đưa cô về.” Trương Trạc nói, “Xe ngựa đang đỗ ngoài cửa chùa.”

Úc Nghi còn chưa kịp từ chối, Trương Trạc đã cách một lớp tay áo nắm lấy cánh tay nàng, đề phòng hai người bị dòng người xô tách ra.

Đầu ngón tay chàng hơi lạnh, lực tay cũng nặng vài phần.

Lại sợ nắm quá chặt khiến nàng đau, theo bản năng liền nới lỏng ra một chút.

Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)

Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.

Gửi phản hồi