Kho truyện
Cỡ chữ Nền Mục lục
Chước Linh

Chương 1: Phù Bình (1) — Tiểu Chiêu

Đăng ngày 04/09/2026

Trước khi được Trưởng công chúa Thủy Ninh ban họ, Ôn Chước Linh vốn không mang họ “Ôn”.

Trước khi bái nhập Thương thị Giang Lăng, một trong sáu đại thế tộc trong thiên hạ, nàng cũng không có tên “Chước Linh”.

Khi ấy, người bên ngoài đều gọi nàng là “Tiểu Chiêu”.

Tiểu Chiêu chưa đầy sáu tuổi đã lớn lên thanh tú, cao ráo. Hàng xóm láng giềng đầu đường cuối ngõ mỗi khi đi ngang qua tiệm rèn đều phải khen thợ rèn một câu —— Tiểu nữ lang nhà ông xinh xắn thế này, nếu mặc y phục của quý nhân, nói là công chúa cũng có người tin đấy.

Thật ra trong thôn chẳng có ai từng gặp công chúa, Tiểu Chiêu cũng chẳng có y phục của quý nhân.

A phụ của công chúa là thiên tử trong thành Lạc Dương, còn a phụ của Tiểu Chiêu chỉ là một thợ rèn bình thường đến không thể bình thường hơn.

Thợ rèn mười mấy tuổi đã bị trưng binh, sống sót qua mấy năm chiến loạn liên miên, may mắn cầm cự được đến năm hai mươi tuổi. Năm hắn hai mươi, trận chiến chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào cuối cùng cũng kết thúc. Các vị tướng quân cưỡi ngựa phi đến Lạc Dương lĩnh công từ tân đế, còn hắn thì mang theo một thân thương bệnh cùng một chân què trở về quê nhà, tiếp quản tiệm rèn của người cha già yếu bệnh tật.

Thợ rèn không có con trai, toàn bộ tay nghề đều truyền cho con gái. Cha già của thợ rèn nói, thời buổi này, người biết rèn sắt lúc nào cũng có cơm ăn.

Còn con gái xinh đẹp, chỉ có thể bị người khác coi thành cơm mà ăn.

Vì thế từ khi bắt đầu biết nhớ, Tiểu Chiêu đã thường xuyên ra vào tiệm của a phụ, cùng hắn nện những khối sắt đỏ rực trong lò lửa.

Tiếng đinh đinh đang đang vang suốt mấy năm, sắt qua ngàn đập trăm rèn, ánh lửa hắt lên hàng mi.

Những khi không làm việc, a phụ còn dạy Tiểu Chiêu rất nhiều bản lĩnh học được trong quân doanh.

Binh khí tốt nhất trong huyện phủ đều do a phụ rèn. Đao, thương, kiếm, kích, thứ nào Tiểu Chiêu cũng có thể múa đến uy phong lẫm liệt.

Có rất nhiều người từng khuyên thợ rèn, nữ lang yểu điệu thì nên được nuông chiều mà lớn —— Ngân Hoa ở thôn bên vì có dung mạo đẹp nên rất “có tiền đồ”, thuở nhỏ bị bán vào nhà huyện lệnh làm nô bộc, sau này được huyện lệnh thu làm thiếp, cả nhà cũng nhờ đó mà được vẻ vang.

Thợ rèn chẳng buồn để tâm, nghe xong cũng chỉ cười.

Khi thợ rèn trở về quê nhà, ngoài cái chân què và một thân thương bệnh, hắn còn dẫn theo một mỹ nhân hiếm có trong cả huyện —— ấy chính là a mẫu của Tiểu Chiêu. Ngày tiệm rèn mở cửa trở lại, người trong thôn tò mò muốn biết vợ thợ rèn trông thế nào nên đều đến góp vui. Mấy người lớn tuổi nhìn đi nhìn lại hồi lâu rồi kinh ngạc kêu lên: “Đây chẳng phải là cô con gái út nhà lão Kiều sao?”

Mọi người cuối cùng cũng hiểu vì sao một mỹ nhân lại để mắt đến thợ rèn chân đi khập khiễng —— hai nhà vốn ở sát cạnh nhau, bọn họ sống bao nhiêu năm thì quen biết nhau bấy nhiêu năm, chẳng biết là cơ duyên thế nào lại khiến hai người gặp lại.

Trẻ con trong thôn đều hâm mộ Tiểu Chiêu có một a mẫu đẹp như tiên nữ. Mỗi lần Tiểu Chiêu thêm mắm dặm muối, bịa chuyện cha mẹ chia lìa khi còn trẻ rồi sau này tái hợp, nàng đều có thể đổi lấy một trận xuýt xoa từ đám bạn.

Nhưng không phải ai cũng thích a mẫu của nàng.

Trong thôn từng có phụ nhân ngồi lê đôi mách, nói năm xưa khi a mẫu ở thành Lạc Dương từng thuộc phường xướng kỹ, thật sự chẳng mấy vẻ vang.

Rốt cuộc thế nào mới gọi là “vẻ vang”, Tiểu Chiêu không hiểu; trong thôn cũng chẳng có “xướng kỹ”, nàng lại càng không rõ đó là gì.

Nàng đem chuyện này đi hỏi a mẫu, kết quả bị a mẫu đánh cho một trận.

A mẫu đánh xong vẫn chưa nguôi giận, chống nạnh đứng ở đầu thôn mắng suốt nửa canh giờ, mắng đến mức phụ nhân kia vừa xấu hổ vừa căm tức. Người nọ đang định che mặt bỏ đi, a mẫu bỗng đổi giọng, nắm lấy tay đối phương rồi bắt đầu khóc lóc thảm thiết.

Hai người thì thầm với nhau một hồi, phụ nhân kia bị a mẫu nói đến nước mắt nước mũi giàn giụa, từ đó thường xuyên mang hoa tươi rau quả sang, còn trở thành bạn thân của a mẫu.

A mẫu thông minh, khéo léo, Tiểu Chiêu vô cùng khâm phục.

Nhờ có a phụ a mẫu che chở, cả thời thơ ấu của Tiểu Chiêu có thể nói là vô ưu vô lo.

Tuy rèn sắt hơi vất vả, nhưng lâu ngày, sức nàng càng lúc càng lớn, vật tay chưa từng thua ai, nhẹ nhàng đã có thể vác muội muội nhà hàng xóm lên vai, khiến đám trẻ vừa hâm mộ vừa sùng bái nàng.

Tiểu Chiêu được khích lệ, múa đao thương cũng càng ra dáng hơn.

A mẫu còn dạy Tiểu Chiêu ghi sổ, viết chữ, mặc cả. Những lúc a mẫu không có mặt trong tiệm, gặp phải khách hàng keo kiệt, thợ rèn lúng túng không nói nên lời, Tiểu Chiêu lại có thể chộp ngay một món binh khí đặt trong tiệm, bày ra tư thế muốn liều mạng với người ta.

Khách đi rồi, thợ rèn mắng nàng: “Chỉ là một con dao thái rau thôi, đáng để con xách cả thương ra sao?”

Tiểu Chiêu nghiêm túc đáp: “Lần này nhường một con dao thái rau, lần sau sẽ phải nhường nhiều hơn. Nhường hết lần này đến lần khác, như vậy sao mà được!”

Thợ rèn bất lực.

Tiểu Chiêu biết dọa người, biết viết chữ, thỉnh thoảng còn học được mấy câu từ ngữ “phong nhã” chua lè từ miệng a mẫu. Một thầy tướng đi ngang qua thôn, để cảm tạ tiền thưởng của thợ rèn, bèn nịnh rằng sau này Tiểu Chiêu nhất định sẽ làm nên đại sự kinh thiên động địa.

Những tháng ngày yên ổn như thế kéo dài mãi đến năm Nguyên Khang thứ hai.

Năm ấy, Tiểu Chiêu chín tuổi.

Năm Nguyên Khang thứ hai trong sử sách là một năm nhuộm đỏ sắc máu.

Nhưng trong ký ức của Tiểu Chiêu, năm ấy lại chỉ có một màu tối tăm —— mùa xuân bắt đầu bằng một buổi sớm âm u, cái lạnh buốt chẳng hề suy giảm, mặt đất mãi không ấm lên, băng cứng trên Lạc Thủy khó tan, trải dài phản chiếu một màu u ám đông cứng như đêm dài vô tận.

Quê nhà Tiểu Chiêu là một thôn nhỏ nằm bên Lạc Thủy, phía đông quận Hoằng Nông. Năm trước Tam Phụ đại hạn, giá lương thực tăng vọt, khiến những vùng xa gần cũng bị vạ lây. Trong thôn nhờ có dòng sông không cạn nên tránh được tai họa ấy, nhưng những cảnh tượng thê thảm trong lời đồn vẫn khiến người ta kinh hãi, nhà nào nhà nấy đều lén tích trữ nhiều lương thực hơn những năm trước một chút.

Đầu xuân, băng tuyết trên quan đạo còn chưa tan, một vị tướng quân cưỡi ngựa cao lớn đã xuất hiện ở đầu kia của cánh đồng tuyết mênh mang, đột ngột như một vị khách từ trên trời giáng xuống.

Tướng quân vào thôn trưng lương.

Sau khi tướng quân rời đi, giá lương thực vùng lân cận tăng vọt, một hộc đáng giá ngàn vàng, gần như đuổi kịp Tam Phụ. May mà mọi người đã sớm tích trữ, tuy bị lấy đi quá nửa, nhưng dè sẻn bữa đói bữa no thì vẫn miễn cưỡng cầm cự được.

Ngân Hoa thôn bên mang lương về nhà, nói từ Tam Phụ đến Hoằng Nông, những vùng phía tây Hà Đông đã biến thành địa ngục trần gian, người bị đem làm thức ăn đâu đâu cũng có.

Tiểu Chiêu vẫn chẳng hiểu, trở về hỏi a mẫu “người bị đem làm thức ăn” là gì.

Lần này a mẫu không đánh nàng, chỉ vuốt tóc nàng, im lặng thật lâu.

Khi ấy mọi người vẫn chưa ngờ rằng, sự u ám của mùa xuân năm Nguyên Khang thứ hai chẳng những không tan biến theo bước chân vị tướng quân, mà tất cả mới chỉ bắt đầu.

Tháng hai, tháng ba, tháng tư, bầu trời vĩnh viễn một màu xám xịt không mây.

Ánh mặt trời trắng bệch chiếu xuống Lạc Thủy, khiến mặt sông chìm trong tử khí nặng nề. Sau khi lớp băng đen tan đi, mặt nước ánh lên một màu đỏ nhạt quỷ dị, rồi liên tục rút xuống như bị thứ gì nuốt mất, gần như cạn dòng.

A phụ thường xuyên nhìn dòng sông đến thất thần, ban đêm lại luôn hạ giọng bàn bạc điều gì đó với a mẫu.

Mảnh đất Trung Nguyên đã thái bình suốt mười năm dường như bắt đầu rung chuyển, bóng tối của loạn thế sắp đến phủ trên đầu mỗi người.

Không lâu sau tiết Thanh Minh, trong thôn lại xuất hiện một toán binh lính.

Vị tướng quân lần trước ít nhất còn mở miệng đòi, lần này đám binh lính lại trực tiếp ra tay cướp.

Kẻ nào kẻ nấy máu me đầm đìa, hung thần ác sát, bộ râu quai nón dính đầy máu. Tiểu Chiêu tận mắt nhìn mấy tên lính xông vào một gia đình, lúc trở ra trong tay đã có thêm mấy túi gạo cùng một xâu tiền Ngũ Thù. Người đàn ông trong nhà đuổi theo, ôm lấy chân một tên lính đau khổ cầu xin, bị hắn đạp một cước vào bậc cửa, phun ra mấy ngụm máu rồi nằm bất động.

Người phụ nữ chạy theo đã mất hết lý trí, chẳng màng gì nữa mà bổ nhào đến trước thi thể người đàn ông khóc gào. Tên lính bị nàng ta làm phiền đến phát bực, tiện tay vung một đao chém đứt cổ nàng rồi nghênh ngang bỏ đi.

Tiểu Chiêu sợ đến chết khiếp, thợ rèn vội ôm nàng xuống hầm, dặn nàng dù thế nào cũng không được bước ra ngoài. Tiểu Chiêu bịt tai co ro đến tận khi trời tối, mãi mới lấy hết can đảm gọi một tiếng: “A phụ.”

Nhưng tiệm rèn vốn lúc nào cũng vang tiếng nước sôi ùng ục lại trống không, chẳng có lấy một chút động tĩnh.

Nàng bò ra khỏi hầm.

Đao thương kiếm kích treo trên tường đã mất hơn nửa, số còn lại nằm ngổn ngang dưới đất. Một lò nước sắt nung giữa trưa đã biến mất, trên mặt đất lại có thêm một “người sắt” với tư thế méo mó quái dị.

Tiểu Chiêu nhặt một thanh đoản đao, đi hết vòng này đến vòng khác trong tiệm, mãi đến khi bị “người sắt” kia làm vấp ngã mới chợt hiểu ra, khàn giọng khóc: “A phụ……”

—— A phụ vĩnh viễn không thể đáp lời nàng nữa.

Nàng giắt đoản đao bên hông, vội vàng chạy về nhà nhưng không tìm thấy a mẫu, chỉ đành theo mấy người trong thôn chạy lên núi gần đó lánh nạn. May mắn thay, a mẫu vừa nghe thấy động tĩnh đã dẫn phụ nhân hàng xóm trốn lên núi, nhờ vậy tránh được một kiếp.

Hai mẹ con ôm nhau khóc một trận, lại trốn thêm một ngày mới dám xuống núi.

Đám binh lính có tướng mạo kỳ dị kia cướp sạch toàn bộ lương thực, gia súc, lại bắt đi rất nhiều nam nữ trẻ tuổi rồi phóng hỏa thiêu rụi thôn làng. Nơi chốn quen thuộc của nàng chỉ còn lại một vùng đất cháy đen, bốc lên từng làn khói đen thê lương.

Những người sống sót tìm kiếm thi thể người thân trong đống hoang tàn, tiếng khóc dưới màn đêm nghe như quỷ gào.

Qua thêm mấy ngày, ngay cả tiếng khóc cũng chẳng còn.

Bầu trời đã lâu không thấy nắng đẹp chỉ trong thời gian ngắn bỗng bước thẳng vào mùa hạ, biến nhân gian thành lồng hấp. Lạc Thủy hoàn toàn cạn dòng, chỉ còn lòng sông nứt nẻ vàng úa. Trận đại hạn trong lời đồn kèm theo nạn châu chấu không chút lưu tình tràn qua mảnh đất vừa mới đổ máu này. Nạn đói giống như bóng đen nhung nhúc do vô số sâu bọ tụ lại, chỉ trong một đêm đã nuốt chửng trời đất đồng hoang.

Cho dù không có trận binh họa lần này, đến mùa thu cũng chẳng thể thu được một hạt lương thực.

Nạn đói lớn trên khắp Trung Nguyên bắt đầu.

Những thôn dân sống sót không còn thời gian đau buồn, lập tức lao vào cuộc bôn ba tìm thức ăn. Lúa chưa kịp lớn đã bị nhổ cả rễ đem ăn, núi rừng trụi lủi đến mức chỉ còn đá. Tiểu Chiêu chạy lên núi tìm thức ăn, khi trở về lại bắt gặp hai gia đình đổi con cho nhau. Người phụ nữ đã đói rất lâu vừa lau nước mắt vừa nhóm lửa giữa đống hoang tàn, bên cạnh là phu quân của bà ta, sau bức tường đổ còn có người âm thầm rình rập. Tất cả những đôi mắt đều dán chặt vào những miếng thịt đang cuộn lên trong nồi nước sôi, lóe thứ ánh sáng gấp gáp như mắt sói đói.

A mẫu nói với Tiểu Chiêu: “Nơi này không thể ở lại nữa, chúng ta đi thôi.”

Tiểu Chiêu không hiểu, Trung Nguyên đại hạn, còn có thể đi đâu tìm lương thực?

A mẫu đáp, cứ men theo Lạc Thủy đi thẳng về phía đông là có thể đến thành Lạc Dương trong lời đồn. Trong thành Lạc Dương khắp nơi đều là quý nhân, còn có những kho lương mà ngũ cốc chất cao tận mái nhà, nhất định sẽ không chết đói.

Lúc rời đi, Tiểu Chiêu gặp vị thiếu niên lang quân trắng trẻo thư sinh nhất trong thôn.

Tiểu lang quân vừa mới trưởng thành, nhờ nổi danh hiếu thuận nên được tiến cử làm lại viên ở dịch đình của huyện phủ, sang năm sẽ nhậm chức. Hắn là người duy nhất trong cả thôn thích đọc sách, còn từng dạy Tiểu Chiêu biết chữ.

Hắn đào một cái hố vuông vức ở đầu thôn rồi nằm vào trong. Thấy nàng đi ngang qua, hắn yếu ớt mỉm cười: “Tiểu Chiêu, có thể đắp giúp ta một nắm đất không?”

A mẫu ấn đầu Tiểu Chiêu vào lòng, bước nhanh hơn.

Tiểu Chiêu giãy giụa ngoái đầu lại, thấy chẳng biết từ khi nào bên cái hố tiểu lang quân đào đã có rất nhiều người vây quanh.

Tiểu Chiêu hỏi: “A mẫu, bọn họ đến đó làm gì?”

A mẫu không lừa nàng: “Chờ hắn tắt thở rồi chia xác.”

Trên đường đi, Tiểu Chiêu còn gặp Ngân Hoa a tỷ “rất có tiền đồ”.

Tóc nàng rối như cỏ khô, mặt xám như tro, trên người cắm một cọng rơm đánh dấu bán thân, một người đàn ông gầy nhỏ kéo nàng đứng bên đường rao bán: “……Nữ nương được nuôi nấng kỹ càng, ăn ngon hơn người nhà nông bình thường nhiều đấy.”

Tiểu Chiêu không dám quay đầu lại nữa.

Rau dại cỏ dại rất nhanh đã bị ăn sạch. A mẫu dẫn Tiểu Chiêu suốt đường uống nước lã, gặm vỏ cây, tránh né giặc cướp cùng hào cường, trải qua muôn vàn gian khổ, bụng đói cồn cào men theo Lạc Thủy khô cạn đi về phía đông.

A mẫu có rất nhiều kinh nghiệm chạy nạn. Nhờ sự cẩn trọng và lanh trí của bà suốt chặng đường, hai người kỳ tích sống sót. Có rất nhiều người đồng hành —— thậm chí có cả những người khỏe mạnh hơn hai mẹ con, kẻ chết dưới tay lưu khấu, kẻ chết vì ăn đất dẫn đến phù thũng bụng trướng, kẻ lại bị giết ngược khi đánh lén người khác, tất cả đều không thể đi đến nơi nước bắt đầu tụ lại trong Lạc Hà.

Không biết đã qua bao lâu, Tiểu Chiêu mở mắt trên lưng a mẫu, nhìn thấy dãy núi cao phía bắc bị mây đen đè thấp cùng bóng dáng nguy nga của một tòa thành dưới chân núi.

A mẫu nói với nàng, dãy núi liên miên kia gọi là Mang Sơn.

Thành Lạc Dương phía nam giáp Lạc Thủy, phía bắc trông về Mang Sơn, đông tây dài sáu dặm mười một bộ, nam bắc dài chín dặm một trăm bộ, mở mười hai cửa thành, chín đường dọc chín đường ngang, đại đạo rộng lớn thông suốt. Nhưng khi đến gần, nơi này lại chẳng hùng vĩ tráng lệ như lúc nhìn từ ngoại ô —— trên quan đạo bụi đất cuồn cuộn che kín trời, hai bên đường toàn là những mái ngói xám thấp bé, hoàn toàn không thấy phủ đệ nào khác biệt.

A mẫu nói, đây vẫn chưa phải Lạc Dương thật sự.

“Đây là ngoại thành, người sống trong các phường phần lớn đều là dân thường. Cứ men theo con đường này đi thẳng sẽ có một cửa thành cao lớn hơn nhiều so với cửa chúng ta vừa đi qua, gọi là Tây Minh Môn. Bên trong cửa ấy mới là nơi quý nhân cư ngụ, trước đây a mẫu chỉ từng vào đó một lần.”

Tiểu Chiêu hỏi: “Vậy trước đây a mẫu cũng sống ở đây sao?”

A mẫu mỉm cười lắc đầu, ánh mắt trôi về nơi rất xa.

“Không…… Ta sống trong một khu vườn rất lớn ở phía đông thành. Tuy khu vườn ấy không nằm trong nội thành, nhưng cũng là…… chốn cực lạc nhân gian.”

A mẫu vốn định tìm một cửa tiệm trong ngoại thành để kiếm kế sinh nhai, nhưng gần đây trong thành tràn vào không ít lưu dân, phần lớn cửa hiệu đều đóng cửa từ chối tiếp khách, càng không thuê người làm. Đường phố vắng tanh, nhìn đâu cũng chỉ thấy cảnh tiêu điều. Hy vọng kiếm sống của a mẫu tan thành mây khói, đành nghĩ đủ mọi cách gửi tin cho một “cố nhân”, cầu người ấy cứu mạng.

Không lâu sau, có người đến lôi hai mẹ con ra khỏi túp lều của lưu dân, nhét vào xe bò rồi chở đến một nơi khác.

Xe đi trên con đường xóc nảy mãi đến khi trời tối mới dừng lại. Tiểu Chiêu được a mẫu bế xuống xe, dụi đôi mắt buồn ngủ.

Đến khi nhìn rõ cảnh tượng trước mặt, nàng bỗng cứng người.

Trong khoảnh khắc ấy, nàng gần như nghi ngờ mình đã bước vào tiên cảnh.

Giữa đêm tĩnh mịch, muôn lá xào xạc, tiếng nước róc rách. Bầu trời xanh thẫm âm u, những hàng hải đường đã rụng hết hoa nối tiếp nhau lay động, dẫn ánh mắt nàng về phía một tòa lầu cao vàng son rực rỡ ở xa xa. Nàng cảm thấy hơi choáng váng, hồi lâu mới thu ánh mắt về, cúi thấp đầu xuống.

Sáu ngọn phong đăng lay động giữa bóng tối. Một phụ nhân lớn tuổi từ trong bóng đèn chập chờn bước đến. Tiểu Chiêu không nhịn được khẽ ngẩng đầu, nhìn thấy phía sau bà ta có một hồ nước nhỏ ánh bạc loang loáng, hành lang trên mặt hồ kéo dài mãi về xa, hòa làm một với màn đêm dịu dàng.

Đám tôi tớ đều gọi phụ nhân này là “cô cô”. A mẫu kéo nàng cùng hành lễ với người nọ, thấp giọng nói: “Tiểu Chiêu, mau hành lễ với Lạc cô, đây là…… mẫu thân của a mẫu.”

Mẫu thân của a mẫu?

Vậy chẳng phải là ngoại tổ mẫu của nàng sao!

A mẫu chưa từng kể với nàng chuyện năm xưa ở Lạc Dương, nàng hoàn toàn không biết a mẫu lại có một người mẹ là quý nhân.

Tiểu Chiêu ngẩng đầu lên, vừa định vui mừng cất tiếng gọi thì Lạc cô đã giũ chiếc quạt hình đao trong tay, cười giễu a mẫu một tiếng.

“Ngươi đúng là không có cái số hưởng phúc. Năm xưa ta trải đường sẵn cho ngươi, cành cao bày trước mắt lại không chịu trèo, cứ nhất quyết lấy một tên què nghèo rớt mồng tơi. Bây giờ sắp chết đói mới mặt dày quay về. Nhìn bộ dạng ngươi lúc này xem, đứng trước cửa cũng chỉ tổ thêm xui xẻo. Đông Uyển không chứa kẻ ăn không ngồi rồi!”

Dứt lời, bà ta nhìn sang Tiểu Chiêu bên cạnh, đánh giá nàng từ trên xuống dưới, hai mắt chợt sáng lên, giọng điệu cuối cùng cũng dịu đi đôi chút: “Con gái ngươi…… ngược lại có một gương mặt rất khá.”

A mẫu đã đói quá lâu, nói chuyện cũng chẳng còn sức: “Xin…… mẫu thân thương xót con bé, nó, nó còn chưa đầy mười tuổi.”

“Lúc ngươi chưa đầy mười tuổi đã bị sang tay bán đi mấy lượt rồi,” Lạc cô cười khẩy, “nếu đã không nỡ bỏ con gái, hà tất trong thư lại viết cái gì mà ‘sống chết khó báo đáp’?”

A mẫu nắm lấy tay áo bà ta, khó nhọc nói: “Nếu mẫu thân có thể giữ chúng con lại, Kiều Cơ dù tan xương nát thịt cũng tuyệt đối không quên ân…… Chỉ là con bé thật sự…… ít nhất hãy chờ thêm một thời gian……”

“……”

A mẫu cầu xin rất lâu, Lạc cô mới mất kiên nhẫn phất tay, chịu nhượng bộ: “Thôi thôi, xem như ngươi may mắn, trong uyển vừa lúc cần thêm tỳ nữ mới. Ta sẽ thưởng cho hai mẹ con các ngươi một miếng cơm.”

Cứ như vậy, a mẫu dẫn Tiểu Chiêu ở lại “Đông Uyển”, nơi bà từng làm việc năm xưa.

Tuy hai mẹ con chỉ có thể ở trong căn phòng nhỏ lạnh lẽo phía sau nhà bếp của hạ nhân, nhưng ít ra cũng có bánh ăn, có nước sạch uống, miễn cưỡng lấp được bụng.

A mẫu được sắp xếp làm tỳ nữ quét dọn ở hậu trù, còn Tiểu Chiêu bị kéo đi học đủ thứ kỳ quái, nào tấu nhạc, nhảy múa, hát khúc, lại còn có một ông lão không râu dạy nàng lễ nghi và “cách ăn nói”.

Mỗi khi học những thứ này, Tiểu Chiêu phải quỳ thẳng lưng trên chiếu, một lần quỳ là nửa ngày.

A mẫu không muốn nàng đi, lén dặn nàng không cần học cho tử tế.

Nhưng chỉ cần nàng hơi lơ là là sẽ bị đánh, những người đó ra tay còn nặng hơn a mẫu nhiều. Vì muốn được ở lại, cũng vì hai chữ “nhẫn nhịn” mà a mẫu luôn dặn đi dặn lại, Tiểu Chiêu không dám phản kháng, lại không muốn bị đánh, đành chăm chỉ học hành.

Ban ngày, Tiểu Chiêu hiếm khi gặp a mẫu. Chỉ có một lần, a mẫu bị người ta vội vàng dẫn đi, nàng không yên tâm, bèn lấy cớ đi vệ sinh rồi lén theo bọn họ đến một chính đường rộng rãi.

Nàng trốn sau bình phong, chờ rất lâu mới nhìn thấy a mẫu.

A mẫu đang quỳ giữa tiệc, tay cầm muôi sơn múc rượu cho khách.

Trong sảnh, hương rượu từ những chiếc tôn sơn lan tỏa, tiếng cười nói không ngớt, nhưng trên đài lại vang lên một khúc nhạc u buồn trầm thấp, hát gì mà “bèo nổi gửi mình nơi nước biếc, theo gió đông tây mặc cuốn trôi”, lại hát gì mà “vượt sông rồi chết, biết làm sao đây”.

Còn a mẫu đánh một lớp phấn trắng dày trên mặt, mày xanh môi đỏ, khoác khăn choàng sắc đỏ thẫm, cử chỉ tao nhã, dáng vẻ muôn phần duyên dáng. Bà dùng hai tay nâng chén rượu có quai cao quá lông mày, những lời chúc rượu dễ nghe nối tiếp nhau tuôn khỏi miệng.

Vị khách trước mặt bà nhận lấy chén rượu, cười trêu: “Kiều Cơ, nghe nói năm xưa dung nhan nàng rực rỡ hơn cả đào mận, khiến huynh trưởng ta đến nay vẫn nhớ mãi không quên. Lần này biết ta đến bái phỏng quân hầu, huynh ấy còn đặc biệt dặn ta đến thăm nàng. Không ngờ bao nhiêu năm trôi qua, nàng vẫn ở Đông Uyển, chỉ là nay đã lộ vẻ già nua, không còn dáng răng trắng môi son thuở trước nữa.”

A mẫu nghe những lời ấy, sắc mặt không hề thay đổi, thậm chí còn cười vui vẻ hơn mấy phần: “Dẫu là đào mận thật sự, lại có loài nào có thể nở rộ nhiều năm mà không tàn? Tuổi xuân của Kiều Cơ đã qua, trái lại công tử đang tuổi thiếu niên khí thịnh, thật khiến người khác phải ngưỡng mộ.”

Tiểu Chiêu chưa từng thấy a mẫu có dáng vẻ như thế này.

Ngoài a mẫu, trong sảnh còn có rất nhiều mỹ nhân, người cầm trống, người ôm tỳ bà, người gảy đàn.

Vũ khúc bạch trữ rực rỡ, cả gian phòng lộng lẫy ánh sáng, năm màu huy hoàng.

“Quý nhân” qua lại nếu nhìn trúng ai, lập tức có thể bỏ vàng mua thân khế của người ấy, đưa về nhà làm gia kỹ.

Thì ra “phường xướng kỹ” là như vậy, Tiểu Chiêu nghĩ.

Ban đêm, a mẫu luôn ôm Tiểu Chiêu khóc lớn.

Khóc lâu, bà bắt đầu nôn ra máu, rồi bệnh liệt giường không dậy nổi.

Từ những lời đứt quãng a mẫu nói trong đêm, Tiểu Chiêu chắp nối được quá khứ của bà.

Khi a mẫu còn nhỏ, vì thiên tai mà bị cha bán đi, sau đó qua tay nhiều người, cuối cùng lưu lạc đến “Đông Uyển”.

Đông Uyển vốn có tên là “Vong Xuân Viên”, là biệt uyển do một vị tướng quân giàu sang tột bậc trong thành Lạc Dương xây dựng tại Tử Trạch phía đông thành.

Biệt uyển rộng mấy chục dặm, xa hoa đến cực điểm. Cây cối hoa cỏ xanh tốt um tùm, chỉ cần một ngọn gió lay là muôn lá cùng vang. Đình đài lầu các ẩn hiện giữa trăm cảnh thiên nhiên, lại đào hồ, dẫn suối, làn nước trong veo lấp lánh. Thỉnh thoảng những dải lụa gấm đỏ thẫm giăng giữa những hành lang trên cao uốn lượn như cầu vồng, theo mây phấp phới, khiến người ta ngỡ như bước lên cung điện bằng ngọc.

Đây là nơi chủ nhân mở tiệc chè chén, không chỉ chứa đầy vàng ngọc châu báu, mã não, sừng tê, hổ phách, mà còn nuôi đủ loại ca kỹ và con hát. Vì có dung mạo đẹp, a mẫu từng được chọn hầu rượu trước tiệc.

Đó chẳng phải chuyện tốt đẹp gì, thậm chí còn không bằng ở lại hậu trù quét dọn —— theo lời a mẫu, bà từng trải qua một buổi yến tiệc, nếu khách không uống cạn rượu trong chén, chủ nhân sẽ giết người hầu rượu.

Có một vị khách không nỡ, dù không giỏi uống rượu vẫn liên tiếp uống cạn năm chén, nhờ vậy bà mới giữ được mạng.

Một vị khách khác lại hoàn toàn không động lòng.

Buổi yến ấy có ba nữ tử hầu rượu chết, thi thể mỹ nhân như những cánh hoa tàn rơi rụng bị quét khỏi sân. Bà sợ đến đêm không thể ngủ, nhưng Lạc cô lại kiêng dè chẳng chịu nói nhiều, chỉ bảo rằng bình thường chủ nhân không phải người tàn bạo, hôm ấy thân phận khách đến dự đặc biệt, làm như vậy chỉ để uy hiếp đối phương.

Nhưng bà nghe không hiểu, cũng không muốn hiểu.

May mà trong Đông Uyển mỹ nhân rất nhiều. Tuy bà từng hầu rượu trước án, cũng từng bị khách nhân để mắt, nhưng không được chủ nhân ghi nhớ nên vẫn còn cơ hội thoát thân. Thấy tuổi tác ngày một lớn, a mẫu nghĩ đủ mọi cách, cuối cùng cũng bị “đuổi” khỏi Đông Uyển.

Bà trở về quê nhà, gả cho a phụ là thanh mai trúc mã, trở thành một phụ nhân bình thường nhất giữa chốn núi rừng thôn dã.

Mỗi ngày Tiểu Chiêu qua lại giữa căn phòng chật hẹp và lầu các học tập, từ xa nhìn thấy một góc khu vườn này đều cảm thấy vô cùng hoang đường —— ngoài đường nơi đồng hoang chất đầy xương trắng ruồi nhặng bu kín, nơi đây lại quanh năm như xuân, cứ như chẳng cùng tồn tại trong một nhân gian.

Nhưng đã đến thì cứ yên ổn mà sống, nàng không có lòng dạ đâu đi thăm dò thế giới trong ngoài khu vườn, chỉ muốn mình và a mẫu có thể sống cho thật tốt.

Ngày tháng cứ thế trôi qua hết ngày này đến ngày khác, cho đến một hôm Tiểu Chiêu trở về sớm hơn thường lệ, vậy mà lại bắt gặp Lạc cô đang ở trong phòng, chỉ vào a mẫu đã bệnh rất lâu nằm trên giường mà mắng xối xả.

“……Ngươi còn tưởng mình là Kiều Cơ năm xưa sao?”

“Nếu không phải thấy con gái ngươi sinh ra có dung mạo đẹp, ta mới chẳng thèm giữ hai mẹ con các ngươi lại! Đông Uyển nuôi không nó suốt mười ba tháng, bây giờ bảo nó đi hầu hạ công tử, ngươi lại không chịu. Nói cho cùng, nó vốn đâu phải con ruột của ngươi, ngươi cần gì phải chết sống giữ chặt không buông?”

A mẫu từng nói, Lạc cô không phải mẹ ruột của bà, mà chỉ là phụ nhân dạy dỗ đám nữ hài cùng lứa với bà. Để tỏ vẻ thân thiết, mọi người đều gọi bà ta là mẫu thân.

Nhưng đến hôm nay Tiểu Chiêu mới biết, hóa ra mình cũng không phải con ruột của cha mẹ.

Nàng chỉ là một đứa trẻ sơ sinh vô danh mà ngày a mẫu rời Lạc Dương đã nhặt được trong con mương dẫn nước Lạc Thủy vào thành.

Thân thể a mẫu đã bị tổn hại, từ lâu không thể sinh con.

Lời lẽ của Lạc cô trong phòng càng lúc càng chua ngoa cay nghiệt. Tiểu Chiêu nghe tiếng ho đứt quãng của a mẫu, lòng đau như dao cắt. Nàng siết chặt vạt áo, men theo đai lưng sờ đến thanh đoản đao vẫn luôn mang sát người từ ngày rời quê.

Bọn họ không lục soát người nàng kỹ càng. Dù là ai cũng chẳng thể ngờ một tiểu nữ lang chưa đầy mười tuổi lại mang theo thứ binh khí sắc bén như vậy bên mình.

Trên vỏ đao do chính tay a phụ chạm khắc có một con rắn dài lạnh băng cuộn quanh, thè lưỡi liếm lòng bàn tay nàng.

Tiểu Chiêu dùng ngón cái đẩy chuôi đao, để lưỡi đoản đao âm thầm trượt khỏi vỏ.

【Lời tác giả】

Cuối cùng cũng mở truyện rồi, thử một vài cách viết mới.

Vụ Viên đói khát tìm khắp nơi mà chẳng kiếm đâu ra món quân thần/huynh muội để ăn! Thế là quyết định tự xào một phần ăn thử (chóp chép miệng). Nếu xào không ngon thì xin dập đầu tạ lỗi trước.

Nam chính chương hai sẽ ghé qua một chút, chương mười mới chính thức xuất hiện~

Tôi sẽ cố gắng cập nhật mỗi ngày, nếu không đăng sẽ xin nghỉ.

Sau đó là phần cảnh báo:

  1. Không phải sảng văn, không phải đại nữ chủ, không phải vô CP. Truyện chậm nhiệt, sắc thái chính khá u ám, chết rất nhiều người…… Về bản chất vẫn chỉ là tiểu ngôn tình, quyền mưu cực kỳ bịa đặt; độc giả muốn xem kiểu nữ chính đại sát tứ phương, mở hack một đường nghiền ép tất cả xin cân nhắc.
  2. Nữ chính không phải xử nữ, nữ chính sẽ thành thân với nam phụ trước (nam chính và nam phụ đều còn nguyên dương), không sinh con (không có lý do gì cả, chỉ vì tác giả không thích viết); theo phong cách trước giờ của tác giả thì hẳn sẽ có tình tiết ngược thân ngược tâm nam chính; độc giả yêu thích tình yêu thuần khiết xin cân nhắc.
  3. Nữ chính thuộc kiểu vạn người mê, có nhiều người đơn phương nàng, trên con đường trưởng thành gặp rất nhiều quý nhân giúp đỡ, cả nam lẫn nữ; nữ chính văn võ song toàn, sức hút nghịch thiên, cơ duyên rất nhiều, ai dị ứng hào quang nhân vật chính xin cân nhắc.
  4. Bối cảnh đại khái mô phỏng thời Ngụy Tấn, nhưng là hư cấu rất nhiều, không có nhân vật hay nguyên mẫu lịch sử có thật, cũng tồn tại vô số thứ tác giả tự bịa ra, không quá chú trọng khảo chứng.
  5. Một câu quen thuộc: Văn phong chưa chắc sẽ đúng gu mọi người, xin đừng mua mù……

P.S. Tôi đã bỏ thiết lập nam chính trọng sinh trong văn án trước đây, bởi vì: 1. Lúc viết phát hiện nữ chính bị OOC; 2. Trong loạn thế, nếu nam chính trọng sinh mà có góc nhìn biết hết mọi chuyện sẽ cướp mất những khoảnh khắc tỏa sáng của nữ chính. Sau khi cân nhắc kỹ, tôi đã sửa thiết lập thành cả nam nữ chính đều không trọng sinh, nhưng có kiếp trước tương tự một dòng thời không song song.

Sau khi chính văn hoàn thành chắc sẽ viết tuyến IF nam chính trọng sinh~

Văn án cũ đính kèm bên dưới↓

—-

Chú thích:

“Bèo nổi gửi mình nơi nước biếc, theo gió đông tây mặc cuốn trôi.” —— Tào Thực, 《Phù Bình Thiên》

“Vượt sông rồi chết, biết làm sao đây.” —— Thái Ung, 《Công Vô Độ Hà》

Phần miêu tả thành Lạc Dương chủ yếu tham khảo 《Lạc Dương Già Lam Ký》 và 《Hà Nam Chí · Tấn Thành Khuyết Cổ Tích》

Những sách tham khảo chính sẽ được liệt kê theo từng chương.

—-

Văn án cũ:

Khi Nữ đế còn lưu lạc nơi phố chợ, nàng từng có một giấc mộng.

Trong mộng, nàng đã già nua, đi qua hồ sen mới nở rộ, gõ lên cửa sổ trúc của một thanh niên.

Thanh niên không nhìn thấy nàng, tưởng rằng thần linh giáng thế.

Nữ đế nghe thấy chính mình trong mộng nói: “Lương Ngọc, ngày Hạ chí năm Nguyên Khang thứ sáu là lúc nóng nhất. Sau khi ngủ trưa tỉnh lại, chàng tuyệt đối đừng cưỡi ngựa ra khỏi thành; nếu đã ra khỏi thành, cũng tuyệt đối đừng cúi đầu, đừng thương hại bất kỳ tiểu nữ lang đói bụng nào.”

“Cho dù đã thương hại nữ lang ấy, cho nàng một xâu bánh ú ngọt là được rồi, đừng đưa nàng về nhà, đừng giúp nàng tìm kiếm cha mẹ, càng đừng tự tay tiễn nàng gả vào cao môn.”

“Lại càng đừng mềm lòng đến thế, chỉ vì nghe nàng gõ ba tiếng lên khung cửa sổ mà quyết định hiến dâng cả đời, làm bậc thềm cho nàng bước lên.”

“Nàng chẳng thể cho chàng bất cứ điều gì. Không thể cho chàng một tình yêu trọn vẹn, không thể dịu dàng đối đãi, không thể hoàn toàn tin tưởng, thậm chí ngay cả một đời bình yên cũng không thể. Thứ theo nàng mà đến chỉ có ô danh ngập trời, giang sơn lung lay sắp đổ, cùng hai mươi năm lưu lạc trên con đường điên đảo.”

“Đừng gặp lại nhau nữa.”

Giấc mộng chẳng hiểu đầu đuôi ấy vừa kết thúc, thiếu nữ mới mở mắt đã nhìn thấy một thanh niên áo trắng từ phía cây cầu cũ bước đến. Giọng nói của hắn ôn hòa chậm rãi, thần thái vừa dịu dàng vừa nhẹ nhàng.

Hắn bước xuống cầu, trong tay cầm một xâu bánh ú ngọt, gần như không hề do dự mà đi thẳng đến trước mặt nàng.

—-

Sau khi thanh niên năm ấy chết oan uổng, Nữ đế bệnh nặng một trận. Nàng tự nhốt mình trong tòa cung điện sâu thẳm trống trải, rồi lại nằm mộng.

Nàng nhìn thấy thanh niên cũng từng hết lần này đến lần khác đi vào cùng một giấc mộng, hết lần này đến lần khác bị cảnh cáo “đừng gặp nhau, đừng gặp nhau”, rồi hết lần này đến lần khác tỉnh lại.

Nhưng sau mỗi lần tỉnh giấc, việc đầu tiên hắn làm đều là không chút do dự, vội vàng khoác y phục, chạy đến dưới cây cầu nơi ngoại ô, mang một xâu bánh ú ngọt cho tiểu nữ lang đang đói bụng.

Suốt đường phi ngựa vội vã, tóc mai đều rối tung. Chỉ đến khi sắp lại gần, hắn mới chậm bước, bởi hắn biết nàng thích dáng vẻ đoan chính của hắn.

“Trên những thẻ sử xanh, trong những trang dã sử, chỉ cần có thể cùng nàng lưu lại trên một trang, vậy thì thân này trải qua hai mươi năm lưu lạc giữa con đường điên đảo cũng coi như không uổng.”

—— Ta chưa từng hối hận vì đã làm một bậc thềm trên con đường dài của nàng.

Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)

Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.

Gửi phản hồi