Chương 36: Phong Quá Lĩnh (1) — “Nương tử thật đẹp.”
Một nhóm người thay đổi dung mạo đôi chút rồi tiến vào Trường Thọ Trấn.
Ở đầu trấn dựng một tấm bia đá, trên khắc hai chữ “Thủ Thiện”, bên trái dưới gốc hòe già có mấy căn nhà mái ngói xanh, trong nhà chẳng có lấy một bóng người. Lúc này đã gần chiều tối, theo lý mà nói phải là lúc chuẩn bị cơm tối, nhưng trong trấn chẳng thấy chút khói bếp nào, bốn phía vậy mà có phần vắng vẻ. Mọi người đang cảm thấy kỳ lạ, bỗng nghe tiếng mấy đứa trẻ đuổi nhau nô đùa.
Phóng mắt nhìn tới, từ xa thấy một bé trai chừng bảy tám tuổi liều mạng chạy về phía đầu trấn, sau lưng có bốn năm đứa trẻ cùng tuổi đuổi theo. Một đứa béo lùn chạy đầu tiên thấy khoảng cách đã gần, đột nhiên nhào tới, trực tiếp đè bé trai xuống đất, mắng lớn: “Cho ngươi ăn trộm thẻ gỗ! Cho ngươi giở trò! Mau giao ra!”
Nói rồi ra sức cạy những ngón tay bé trai.
Trong lòng bàn tay bé trai dường như giấu thứ gì đó, nó cuộn tròn người lại, hai tay nắm chặt thành quyền ép trước ngực, mặc cho đứa béo lùn dùng sức thế nào, nó cũng không chịu buông ngón tay.
Đứa béo lùn cuống lên, quay đầu nói với mấy đứa phía sau: “Còn đứng ngây ra đó làm gì, mau tới giúp đi!”
Mấy đứa trẻ nhìn nhau một cái rồi cùng xông lên, ngoài ra còn có một bé gái mặc áo vải xanh rộng thùng thình, dường như không đành lòng, bước lên mấy bước rồi lại dừng.
Đứa béo lùn vẫn đang mắng: “Cho ngươi giở trò này! Cho ngươi ăn trộm thẻ gỗ này! Ngươi tưởng giấu thẻ gỗ đi là không sao à? Ta sẽ đi mách Chung bá ngay, lần sau đổi thành mẹ ngươi đi cho Hắc Phong Quái ăn!”
Cả mặt bé trai đỏ bừng, nghe vậy, từ kẽ răng rít ra một câu: “Không, không được, mẹ ta đang bệnh, không thể đi…”
Lúc này, bé gái đứng bên cạnh như cảm nhận được điều gì, ngẩng đầu lên, chẳng biết từ lúc nào ở đầu trấn đã xuất hiện mấy người, dáng vẻ phong trần mệt mỏi, dường như từ xa tới.
Trong chớp mắt, bé gái lộ vẻ mừng rỡ, nhưng rất nhanh đã thu lại, nhắc mấy đứa trẻ khác: “Có khách tới.”
Đứa béo lùn cùng mấy đứa kia cũng nhìn thấy nhóm A Chức, chúng lập tức im bặt, vậy mà không đánh nhau nữa, liền buông bé trai ra, bật dậy chạy vào trong trấn: “Cha ơi, Chung bá, có khách tới, có khách quý tới rồi!”
—
“… Mấy vị đã là khách quý từ xa tới, theo lão hủ thấy, dù sao trời cũng muộn rồi, đêm nay chi bằng nghỉ lại Trường Thọ Trấn. Mấy vị chỉ cần hỏi thăm một chút là biết, trấn chúng ta là vùng đất phong thủy tốt nổi tiếng gần xa, người trong trấn chẳng những sống thọ mà phần lớn đều khỏe mạnh. Mấy vị cũng tới đúng dịp, vừa khéo gặp lễ ‘Vấn Thần’ mỗi năm một lần, vừa rồi người trong trấn đều tụ tập ở từ đường bên kia chuẩn bị lễ vật đấy… À, nghe nói mấy vị đang vội lên Tuyên Đô, còn chưa hỏi mấy vị quê ở đâu?”
Mấy đứa trẻ vừa gọi, trong trấn rất nhanh đã có một ông lão tóc bạc phơ chống gậy bước ra, phía sau ông có không ít người đi theo, có lẽ nghe nói có khách tới nên cùng ra nghênh đón. A Chức nhìn một lượt, ngoài phụ nữ, trẻ nhỏ và mấy nam tử tráng niên, những người còn lại phần lớn đều là người già, có người trông đã ngoài bảy mươi.
Ông lão chính là trấn trưởng, mọi người gọi là Chung bá.
Chương Chiêu là gia chủ của “gia đình” bọn họ, tuy hắn không thích nói chuyện, nhưng trước kia hẳn từng đi lại ở nhân gian, đối đáp với những câu hỏi của Chung bá vậy mà vô cùng thành thạo: “Không giấu gì lão trượng, chúng tôi là người Lễ Châu, gia huynh làm việc ở Tuyên Đô, mấy hôm trước chẳng may mắc bệnh cấp tính mà qua đời. Chị dâu tôi suốt đêm viết một phong thư, bảo chúng tôi đưa thi hài gia huynh về Lễ Châu an táng, như vậy cũng coi như lá rụng về cội. Cả nhà chúng tôi lên đường vội vàng, ban đầu đã thuê xe ngựa, không ngờ giữa đường gặp cướp, chẳng những mất xe ngựa và hành lý mà còn lỡ mất thời gian, hiện giờ chỉ có thể đi đường tắt qua Phong Quá Lĩnh để tới kinh thành. Chỉ là… nghe nói gió cát ở Phong Quá Lĩnh rất lớn, sơ ý một chút sẽ mắc kẹt bên trong, xin hỏi lão trượng, vào núi có điều gì cần chú ý không?”
Chung bá vuốt lại râu tóc, cẩn thận suy nghĩ một phen: “Gió cát ở Phong Quá Lĩnh thông thường chỉ đặc biệt dữ dội vào cuối xuân đầu hạ, những lúc khác vào núi cũng không sao. Có điều hai hôm nay thợ săn trong trấn vào núi, nói sương xuân năm nay đặc biệt dày, nếu không quen đường rất dễ bị lạc lối, hơn nữa trong núi còn có vài tên trộm vặt, rất khó đối phó. Ta thấy mấy vị cứ ở lại trấn một đêm, đợi sáng mai lão hủ sai người chuẩn bị xe ngựa đưa đi.”
“Đưa đi thì không cần đâu.” Sở Tiêu nói, “Không giấu gì lão trượng, hai vị thiếu gia nhà chúng tôi đều biết chút võ nghệ, nếu không phải đại đạo tặc thì chẳng sợ mấy tên trộm vặt. Chỉ không biết ngoài sương mù và trộm cướp, trong núi còn có điều gì khác thường không?”
“Thế sao được? Các vị là khách quý từ xa tới. Chư vị có điều không biết, tôn chỉ của Trường Thọ Trấn chúng ta là ‘Thủ Thiện’, một trong những ý nghĩa của chữ thiện chính là ‘Có bạn từ phương xa tới, chẳng phải chuyện đáng vui sao’. Trấn chúng ta hiếu khách nhất, nào có đạo lý không đưa tiễn?”
Mấy người phụ nữ sau lưng Chung bá cũng nói: “Đúng vậy, đêm nay cứ ở lại trước, sáng mai chúng tôi đưa các vị đi.”
“Ở lại đi, lễ vật ‘Vấn Thần’ bên từ đường đều đã bày xong, các vị vừa khéo gặp lễ Vấn Thần mỗi năm một lần, đúng là gặp may lớn đấy.”
Chương Chiêu cùng mấy người nhìn nhau, lúc này A Chức nói: “Trước đó khi vừa vào trấn, chúng tôi thấy mấy đứa trẻ đánh nhau, một đứa nói sẽ đưa mẹ của đứa kia đi cho Hắc Phong Quái ăn. Xin hỏi trấn trưởng, Hắc Phong Quái là thứ gì?”
Nàng hỏi như vậy không khỏi quá thẳng thắn, Hề Cầm kéo Bạch Nguyên Kỳ tới, xoa đầu hắn: “Lão trượng chớ trách, tiểu nhi nhà tại hạ chưa hiểu biết nhiều, nghe nhắc tới Hắc Phong Quái thì sợ hãi. Nương tử ta thương con nên mới hỏi vậy.”
Chung bá không để bụng, cười ha hả hai tiếng, đưa tay làm động tác mời, dẫn mọi người đi vào trong trấn, vừa đi vừa nói: “Mấy vị hỏi đúng dịp rồi, nói tới Hắc Phong Quái, thật ra có liên quan tới lễ Vấn Thần hôm nay. Những năm đầu, gió cát ở Phong Quá Lĩnh quá lớn, không ít người đã bỏ mạng giữa gió cát. Hơn trăm năm trước, tiền triều có một vị hoàng đế đích thân dẫn đại thần lên Phong Quá Lĩnh trồng cây. Về sau, một ngày nọ, hoàng đế đột nhiên mất tích, các đại thần tìm suốt bảy ngày bảy đêm vẫn không thấy tung tích. Lúc này, có người run rẩy bẩm báo với các đại thần rằng những người mất tích ở Phong Quá Lĩnh thật ra đều bị Hắc Phong Quái tha đi. Hắc Phong Quái là một loại đại yêu ở Phong Quá Lĩnh, mỗi khi nó xuất hiện thì trời đất tối sầm, gió cát tụ thành hình, nó thích ăn máu thịt người nhất, chỉ có Man Vưu Bồ Tát mới đối phó được nó. Hoàng đế mất tích lâu như vậy, tám phần là đã bị Hắc Phong Quái bắt đi.
“Các đại thần nghe xong đều bó tay không biết làm sao, nhưng hoàng hậu lại quỳ trước tượng Nam Vưu Bồ Tát suốt một ngày một đêm, cầu xin ngài cứu phu quân mình. Sau một ngày một đêm, Nam Vưu Bồ Tát vậy mà thật sự hiện thân. Bồ Tát nói ngài không tin chân tình nơi nhân gian, trừ khi hoàng hậu có thể quỳ đủ một ngày trên dải lụa đỏ, ngài mới chịu cứu. Đó không phải dải lụa đỏ bình thường, hai đầu dải lụa được buộc vào những đốt trúc, phía dưới thắp một trăm ngọn nến, hơi nóng từ lửa nến xuyên qua dải lụa truyền tới đầu gối, mỗi khắc quỳ xuống đều là một phen giày vò. Nhưng hoàng hậu vẫn đồng ý, một ngày sau, nến cháy hết, Nam Vưu Bồ Tát đúng hẹn đưa hoàng đế trở về, nhưng đôi chân hoàng hậu cũng đã phế. Hoàng đế biết được sự thật, lập lời thề từ nay không bao giờ nạp phi, cả đời chỉ có một mình hoàng hậu, một đôi phu thê bên nhau trọn kiếp.
“Giai thoại này đã lưu truyền ở chỗ chúng ta suốt trăm năm, Hiếu An hoàng đế của tiền triều, người cho trồng cây xanh khắp Phong Quá Lĩnh, cùng hoàng hậu quả thật đã bên nhau một đời tới lúc bạc đầu. Về sau, bách tính vùng này để tưởng nhớ giai thoại ấy, liền định ngày hoàng đế trở về làm lễ ‘Vấn Thần’. Hôm ấy ngoài tế bái Nam Vưu Bồ Tát, còn phải chọn ba đôi phu thê ân ái, thay áo đỏ, buộc lụa đỏ vào hai tay, đốt nến dưới dải lụa, cầu hỏi Bồ Tát về nhân duyên đời này.”
Chung bá nói rồi nhìn A Chức và Hề Cầm, cười hỏi: “Hai vị từ xa tới, trông lại ân ái như vậy, đêm nay chi bằng làm một trong ba đôi phu thê ấy, tới trước Nam Vưu Bồ Tát hỏi thử nhân duyên?”
A Chức nói: “Hôm nay đã là ngày lễ Vấn Thần, hẳn mọi người đã chọn xong ba đôi phu thê rồi, chúng tôi vô cớ chiếm mất cơ hội của người khác, như vậy không hay lắm đâu?”
“Lễ Vấn Thần năm nào cũng có, năm nay không hỏi được thì còn năm sau, khách quý lại hiếm khi mới tới một lần.”
“Đúng vậy, khách quý không cần khách sáo với chúng tôi, nhân duyên được hỏi trong lễ Vấn Thần linh nghiệm lắm đấy, các vị đã tới rồi thì đừng bỏ lỡ.”
“Tiểu nương tử xinh đẹp như vậy, thay áo đỏ vào nhất định sẽ rất đẹp!”
Chung bá vừa dứt lời, những trấn dân khác đã mồm năm miệng mười khuyên nhủ.
Lúc này, A Chức và Hề Cầm đồng thời nhận được truyền âm mật ngữ: “Hai vị đạo hữu, trấn này có điều kỳ lạ. Hai người định đồng ý sao?”
Người lên tiếng là Trữ Giang Nhứ, nàng đang giả làm bà lão, vừa trò chuyện với một trấn dân.
Nếu nói kỳ lạ, ngay khi vừa bước vào trấn, bọn họ đã phát hiện điều kỳ lạ rồi.
Hắc Phong Quái quỷ dị khó lường trong lời trẻ nhỏ, chiếc thẻ gỗ bé trai nắm chặt trong lòng bàn tay, thà gãy ngón tay cũng không chịu giao ra, vẻ mừng rỡ của bé gái khi nhìn thấy bọn họ, sự níu giữ không ngoại lệ của tất cả trấn dân.
Nhưng ngoài những điều ấy, thứ khiến A Chức khó hiểu hơn là một trực giác khác thường, dường như những thôn dân vây quanh bọn họ đều có gì đó không ổn, rốt cuộc không ổn ở đâu, nàng lại không nói rõ được. Rõ ràng bọn họ nói chuyện, hít thở chẳng khác người thường, nhẹ nhàng dùng linh lực dò xét cũng không có điểm gì đáng ngờ, nhưng thi thoảng lại có một luồng lạnh buốt ghê người bất chợt xuất hiện rồi tan đi, chẳng theo quy luật nào.
Hề Cầm dùng mật âm đáp: “Ta thì không sao, cứ xem ý Khương tiên tử thế nào?”
Thôi vậy, không vào hang cọp sao bắt được cọp con, bọn họ tới Trường Thọ Trấn vốn là để nghe ngóng manh mối về Tố Hoang.
Tố Hoang xuất thế ắt có dị tượng, hiện giờ chẳng phải dị tượng đã xuất hiện rồi sao?
A Chức nói: “Được.”
Trữ Giang Nhứ liền chống gậy gõ xuống đất: “Bọn trẻ ân ái, vậy cứ để chúng đi hỏi Bồ Tát một phen.” Lại quay đầu nhìn A Chức và Hề Cầm, nói: “Các con hỏi Bồ Tát xong thì ra ngay, đừng làm phiền người ta thêm. Nhớ đấy, chúng ta vẫn luôn chờ các con.”
Dứt lời, A Chức còn chưa kịp đáp một tiếng, một người phụ nữ đã chen ra khỏi đám đông, lập tức kéo lấy cổ tay nàng: “Tiểu nương tử mau tới trang điểm đi, chậm trễ thêm nữa là muộn mất!”
—
“Chấm một chấm giữa đôi mày, một đời một kiếp chỉ đôi mình, cài một trâm nơi ngọn tóc, kiếp sau bên cầu lại tương phùng.”
Mấy người phụ nữ đưa A Chức tới gian phòng bên trong khách xá, thay áo đỏ cho nàng, vừa trang điểm vừa đọc.
Bên cạnh có một bà lão bưng đồ cài tóc, nghe những người phụ nữ đọc xong lời chúc khi trang điểm liền nói: “Lễ tế trong tiết Vấn Thần kéo dài một ngày, đại lễ chúng ta đã làm vào buổi sáng, hiện giờ chỉ còn bước cuối cùng là ‘Phu Thê Vấn Thần’. Lát nữa khi tiếng chiêng vang lên, chúng ta sẽ buộc lụa đỏ vào cổ tay tiểu nương tử và phu quân, đưa hai người tới từ đường.”
“Chiêng tổng cộng vang ba tiếng, tiếng thứ hai tế Bồ Tát, tiếng thứ ba đốt nến đỏ.” Người phụ nữ đang cài hoa cho A Chức tiếp lời, nàng nói rất nhanh, không biết vì vội hay tính tình vốn thế, “Hai tiếng đầu đều đơn giản, các đôi phu thê khác làm gì, hai người cứ làm theo là được. Tới tiếng thứ ba, sẽ có người buộc nến đỏ phía dưới dải lụa của hai người. Nến đỏ tượng trưng cho một đời người, dải lụa tượng trưng cho nhân duyên của hai người, dải lụa sau bao lâu mới đứt thì nhân duyên của hai người dài bấy lâu. Một khắc là ba năm, mười khắc là nửa đời, nếu nến đỏ cháy hết mà vẫn không đốt đứt được dải lụa, vậy chứng tỏ hai người là nhân duyên kiếp trước kiếp này…”
Đúng lúc này, bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa, Hề Cầm hỏi: “Nương tử, nàng xong chưa?”
Người phụ nữ cài hoa đáp thay: “Sắp xong rồi, vào đi.”
Cửa “két” một tiếng mở ra, lát sau truyền tới tiếng bước chân. A Chức vẫn đang suy ngẫm lời người phụ nữ, nhất thời không nhận ra tất cả những người trong phòng nhìn thấy Hề Cầm đều sững sờ.
Đợi nàng chậm chạp nhìn sang, chỉ thấy Hề Cầm đã thay một thân áo đỏ, mái tóc đen như mực buông xuống, giữa tóc buộc một dải lụa đỏ. Đuôi đôi mắt đào hoa của hắn rất dài, vốn mang theo chút sắc bén tựa sương lạnh, có lẽ vì trong phòng sắc đỏ quá nhiều, ánh đèn lại quá mờ ảo, trái lại phủ lên mí mắt hắn một tầng đỏ nhạt, khiến vẻ lạnh lẽo ấy cũng tan đi, biến thành chút phong tình mập mờ vừa đủ.
Thật ra lúc này Hề Cầm đã thu liễm dung mạo đi rất nhiều, chưa bằng một nửa vẻ ngoài chân thật của hắn. Áo đỏ trên người cũng không phải hỷ phục chỉnh tề, chỉ là một chiếc trường sam cổ chéo có phần tùy ý, có lẽ chính vì vậy mà cả người hắn trông vô cùng phóng khoáng phong lưu.
A Chức luôn chuyên tâm tu hành, chưa từng để ý vẻ ngoài của người khác.
Trước kia nàng từng nghe người ta nói sư huynh Diệp Túc có dung mạo như thiên nhân, nhưng nàng không biết dung mạo thiên nhân rốt cuộc là thế nào.
Giờ phút này, nàng bỗng có chút hiểu vì sao những vũ cơ ở Trụy Cẩm Hiên luôn vây quanh Hề Cầm.
Nhưng Hề Cầm trước mắt cũng chẳng mang vẻ đẹp như thiên nhân, trái lại còn có chút… yêu mị.
A Chức sống qua hai kiếp tới nay, chưa từng cảm thấy nam tử nào, hoặc bất kỳ người nào đẹp cả, đây có lẽ là lần đầu tiên.
Vì vậy nàng rất nhanh thu hồi ánh mắt, cũng không vì thế mà lòng sinh gợn sóng.
Hề Cầm lại nhìn A Chức một lát rồi bật cười, hắn cúi mắt ngắm người trong gương, có lẽ vì đang diễn kịch cho người khác xem, khẽ nói: “Nương tử thật đẹp.”
Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)
Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.