Kho truyện
Cỡ chữ Nền
Kiếm Xuất Sao (Kiếm Ra Khỏi Vỏ)

Chương 92: Mộ Gia Thương (3) — “Vĩnh viễn chìm trong đêm tối, mòn mỏi trông mong một lối thoát.”

Đăng ngày 23/10/2026

Phục Tội Đường rộng bằng từ đường Mộ gia, trên bốn cây cột vuông khắc chi chít tộc huy.

Sát vách tường có một khám thờ. Lần trước A Chức tới đây, tộc trưởng khoác áo bào trắng, đứng trước khám thờ. Áo bào trắng ấy rộng thùng thình, che khuất tầm nhìn của nàng, khiến nàng không phát hiện trong khám thờ vậy mà chẳng có thứ gì.

Trước khám thờ còn đặt một tấm đệm bồ đoàn.

A Chức biết tấm đệm bồ đoàn được đặt ở đây là để nàng hành lễ quỳ.

Thật ra tiên nhân không mấy khi quỳ gối. Bọn họ tự xem mình cao quý, cho rằng quỳ lạy là sự hạ mình chịu nhục chỉ có ở phàm nhân.

A Chức không để tâm. Nàng bước tới, quỳ một gối trên đệm bồ đoàn hành lễ, bởi nàng vô cùng chắc chắn lời triệu gọi của Mộ gia dành cho mình chính là từ phía sau khám thờ này truyền tới.

Vừa hành lễ quỳ xong, nàng đột nhiên nghe thấy một tiếng ngân rất khẽ, một pháp trận xuất hiện trước khám thờ.

A Chức im lặng một chút rồi trực tiếp bước vào pháp trận.

Ánh sáng xung quanh xoay chuyển dữ dội, pháp trận lập tức truyền tống nàng tới một vùng đất khác thường.

Đợi tới khi ánh sáng pháp trận tan đi, A Chức phóng mắt nhìn quanh, bất giác sững sờ.

Nơi này rộng lớn mà hiu quạnh, tựa như chìm trong đêm tối vĩnh hằng. Trên cao mây mù giăng kín, không thấy trăng sao. Phía dưới là hết nấm mồ này tới nấm mồ khác, nhưng trong mộ không chôn người, trên mỗi nấm mồ lại cắm vô số thanh kiếm.

Đây là một… kiếm trủng?

A Chức không chắc rốt cuộc mình đang ở đâu, nhưng trực giác mách bảo nàng vẫn ở trong Mộ gia. Nơi này nằm sâu bên trong lòng núi, là một vùng cấm địa mà ngay cả tộc nhân Mộ thị cũng không thể tùy tiện đặt chân tới.

Nhưng vì sao cấm địa của Mộ thị lại là một kiếm trủng?

Trong ấn tượng của nàng, người Mộ gia chưa từng có ai học kiếm, ngoại trừ nàng. Mà nàng cũng chỉ sau khi rời khỏi Mộ gia, theo sư phụ mới bước vào kiếm đạo.

Những thanh kiếm trong kiếm trủng đều mang vẻ cổ kính xa xưa, ánh kiếm phản chiếu lẫn nhau, tỏa ra ánh sáng mờ nhạt. Thế nhưng nhìn kỹ mới thấy tất cả kiếm ở đây đều là kiếm gãy, vậy mà không có lấy một thanh còn dùng được.

A Chức không dừng lại ở đó, mà lần theo hướng lời triệu gọi, đi tới chính giữa kiếm trủng.

Ở trung tâm có sáu tấm bia đá dựng thành vòng, trên bia khắc kín chữ. Hình dạng những văn tự ấy vô cùng cổ xưa, hơi giống tộc huy Mộ thị, nàng không đọc hiểu được.

Giữa những tấm bia đá lại có một pháp trận.

Pháp trận mang hình vòng tròn mộc mạc, không giống tất cả những pháp trận khác của Mộ gia. A Chức biết đây chính là trung tâm của đại trận hộ tộc, toàn bộ đại trận đều bắt nguồn từ nó.

Hóa ra thứ triệu gọi nàng chính là đại trận hộ tộc?

“Tộc nhân Mộ Vong.”

Một giọng nói vang lên phía trước, trầm tĩnh mà uy nghiêm, không phải tiếng người.

A Chức nhìn theo tiếng nói. Giữa những tấm bia đá, phía trên pháp trận hình vòng tròn, đột nhiên xuất hiện một bộ áo bào trắng.

Áo bào trắng cổ xưa mà sạch sẽ, ở hai góc vạt áo phía dưới đều treo một chiếc chuông đồng, nhưng một trong hai chiếc không có lưỡi chuông. Đây chính là bộ áo bào tộc trưởng từng mặc trước kia.

Xung quanh vô cớ nổi lên những cơn cuồng phong xoáy tròn, chuông đồng khẽ ngân, áo bào trắng tung bay phấp phới trong gió. Đại trận hộ tộc một lần nữa cất tiếng:

“Tộc nhân Mộ Vong.”

A Chức đáp: “Có.”

“Ngươi có bằng lòng trở thành tộc trưởng đời thứ mười bảy của Mộ thị không?”

Tộc trưởng? Nàng sao?

Đại trận hộ tộc triệu gọi nàng tới là để nàng làm tộc trưởng Mộ thị?

Nhưng vì sao lại là nàng?

Nói cho đúng, chi của nàng và tứ thúc không được xem là dòng chính Mộ thị, tuy trong người nàng quả thật chảy dòng máu Mộ gia.

Đại trận hỏi nàng, có phải vì tộc nhân đều đã không còn nữa?

A Chức không trả lời ngay, mà hỏi: “Trở thành tộc trưởng thì phải làm gì?”

“Khoác tội bào, quản thúc tộc nhân, gánh vác tội lỗi còn truyền lại của Mộ thị.”

“… Tội lỗi còn truyền lại của Mộ thị?”

A Chức lẩm bẩm bốn chữ ấy.

Nàng đột nhiên nhớ tới “tội ấn” mà Lạc Anh từng nhắc tới. Nếu tội lỗi ấy thuộc về cả tộc, vậy có nghĩa mỗi người Mộ gia đều mang tội ấn trên người?

Mà tộc trưởng cần quản thúc tộc nhân, tức là tộc trưởng có quyền được biết vì sao người Mộ gia mang tội.

Nàng đang dùng thân thể dưỡng hồn, giờ hồn xác đã sắp chia lìa. Nàng đi suốt chặng đường tới đây chính là để tìm hiểu nguyên do thân thế, tìm kiếm một con đường sống. Nếu chỉ có trở thành tộc trưởng mới biết được câu trả lời, thì lúc này thật ra nàng không còn lựa chọn nào khác.

Có lẽ cảm nhận được tâm niệm của A Chức, đại trận hộ tộc nói: “Tộc nhân Mộ Vong, ngươi hãy bước tới.”

A Chức nghe lời tiến lên một bước.

Sáu tấm bia đá lập tức phát ra tiếng ngân vang, ánh sáng lưu chuyển trên mặt bia. Đột nhiên nàng có thể hiểu được những thần văn thượng cổ giống chữ Phạn khắc trên thân bia ấy.

Nói chính xác hơn, không phải nàng đọc hiểu được. Khi nàng nhìn về phía những tấm bia đá, hiện ra trước mắt nàng ngoài văn tự còn có từng bức họa cổ, từng đoạn âm thanh…

“… Hàng vạn nghìn năm trước, Bạch Đế Thiếu Hạo dẫn các bộ tộc cư ngụ ở Đông Di. Tộc nhân trực hệ của người là Thanh Dương thị, lấy phượng hoàng làm đồ đằng. Các bộ tộc thần thuộc có hơn hai mươi nhánh, đều lấy tên loài chim để đặt tên, chia thành Huyền Điểu thị, Bá Triệu thị, Chúc Hồng thị…”

“… Về sau, khí trong nhẹ bay lên thành trời, khí đục nặng chìm xuống thành đất. Nhân gian không còn thích hợp để thần linh cư ngụ, chúng thần sắp trở về Cửu Trùng Thiên, không thể che chở nhân tộc được nữa…”

“… Nhân tộc thế yếu, khó địch lại muôn yêu. Xuân Thần Câu Mang thương xót nhân tộc, thỉnh cầu Thiếu Hạo truyền lại thuật phong ấn của thần tộc cho nhân tộc. Thuật phong ấn ấy tên là Tố Hoang, có thể phong ấn vạn vật trên thế gian. Có được thuật này, nhân tộc có thể phong ấn trọc khí vào dị giới, đề phòng muôn yêu trở nên quá mạnh, gây họa cho nhân gian.

“… Bạch Đế Thiếu Hạo chấp thuận, bèn truyền Ấn Tố Hoang cho tộc nhân Thanh Dương thị…”

A Chức hơi ngẩn ra. Ấn Tố Hoang?

Hóa ra Ấn Tố Hoang chính là thuật phong ấn mà năm xưa Bạch Đế truyền cho nhân tộc.

“… Nhân tộc sức yếu, phong ấn Tố Hoang nếu được thi triển bằng sức người thì uy lực chưa bằng một phần mười thần lực. Vì vậy Xuân Thần Câu Mang đề nghị đúc kiếm cho nhân tộc, được Bạch Đế chấp thuận…”

“… Kiếm vốn không tên. Vì thanh kiếm này do Bạch Đế Thiếu Hạo triệu tập các thần thợ đúc thành, nên còn được gọi là kiếm Bạch Đế…”

A Chức nhìn bức họa cổ trên tấm bia đá đầu tiên: Một nam tử có dung mạo ôn hòa, tay cầm cành dây leo, đang đặt tay lên ngực hành lễ dưới thềm điện của Bạch Đế Thiếu Hạo. Xung quanh đại điện lác đác có vài người đứng, trong đó có một người mang đồ đằng cánh phượng giữa mi tâm.

A Chức biết nam tử cầm cành dây leo chính là Xuân Thần Câu Mang. Cảnh tượng trong tranh chính là trước khi chúng thần trở về trời, Câu Mang thỉnh cầu Thiếu Hạo truyền Ấn Tố Hoang cho nhân tộc. Mấy người phía sau ông hẳn là người Thanh Dương thị và các bộ tộc thần thuộc.

Trong bức họa trên tấm bia đá thứ hai, Bạch Đế Thiếu Hạo lơ lửng trên một đám thần hỏa, hai bàn tay hơi nâng lên. Hai bên người có bốn vật, lần lượt là tua kiếm, chuôi kiếm, lõi kiếm và lưỡi kiếm.

Bức họa này hẳn miêu tả cảnh Thiếu Hạo đúc kiếm Bạch Đế.

A Chức nghe thấy một giọng nói: “Vì nhân tộc không thể thi triển thần uy của Ấn Tố Hoang, Bạch Đế và Xuân Thần đã đúc một thanh kiếm không tên, ban tặng nhân tộc, vì vậy còn được gọi là kiếm Bạch Đế.”

Vì nhân tộc không thể hoàn toàn thi triển Ấn Tố Hoang nên mới đúc kiếm Bạch Đế?

Nói cách khác, chỉ khi có kiếm Bạch Đế, Ấn Tố Hoang mới có thể phát huy thần uy vốn có sao?

Nhưng vì sao?

Trong lòng A Chức nảy sinh nghi vấn, nhưng nàng không chìm đắm trong đó mà nhanh chóng nhìn sang tấm bia đá thứ ba.

Trên bia đá, kiếm Bạch Đế đã được đúc thành, thân kiếm cổ kính trang nhã, nhưng rất nhiều người nhìn thanh kiếm ấy đều mang vẻ mặt bó tay không biết làm sao. Đột nhiên bức họa biến đổi. Trong tranh, cuối cùng có một nam tử cầm kiếm lên, tất cả mọi người xung quanh đều lộ vẻ kinh ngạc, Xuân Thần Câu Mang cầm cành dây leo đứng bên cạnh thì mỉm cười nhẹ nhõm.

Phía dưới bia đá hiện lên một đoạn văn tự, trên đó viết: “Tuy kiếm Bạch Đế do Bạch Đế đúc cho nhân tộc, nhưng rốt cuộc vẫn là thần vật được trời đất tạo thành. Trong hai mươi bốn bộ tộc Đông Di, ngoại trừ Thanh Dương thị, vậy mà không một ai có thể cầm kiếm. Nhưng tuy Thanh Dương thị có thể cầm kiếm, lại không đủ sức dùng kiếm thi triển Ấn Tố Hoang. Vì vậy Bạch Đế triệu tập trăm tộc khắp bát hoang tới thử kiếm.

“Ngoài Đông Di, phía nam Tốc Thủy có một bộ tộc mang họ Đoan Mộc. Đoan Mộc thị sống bằng nghề đúc kiếm, luôn làm bạn với kiếm. Trong tộc có một người tên Củ. Củ thử kiếm, chỉ một lần đã thành công. Kiếm Bạch Đế trong tay Củ giống như vật được định sẵn để đồng hành cùng hắn từ khi sinh ra. Xuân Thần Câu Mang vui mừng, khen Đoan Mộc Củ là ‘người cầm kiếm trời sinh’. Vì vậy Đoan Mộc thị trở nên nổi danh. Mấy năm sau, người đời đều gọi tộc nhân Đoan Mộc thị là ‘người cầm kiếm’.”

A Chức đọc tới đây, hơi sững sờ.

Ý của đoạn văn này là sau khi kiếm Bạch Đế được đúc thành, chỉ có Đoan Mộc Củ ở phía nam Tốc Thủy thành công cầm kiếm, dùng kiếm thi triển Ấn Tố Hoang. Từ đó về sau, người đời gọi Đoan Mộc thị là “người cầm kiếm”.

Vậy vì sao Lạc Anh lại nói nàng là người cầm kiếm?

Rõ ràng nàng mang họ Mộ.

Bức họa cổ trên tấm bia đá thứ tư dần hiện ra. Khác với ba bức họa trước, trong tranh này không có Bạch Đế và Câu Mang, mà là Đoan Mộc Củ dẫn theo đứa con nhỏ vào rừng giương cung săn bắn. Xa hơn nữa, trong tộc Đoan Mộc, tộc nhân dường như đang tụ họp, nâng chén trò chuyện, cười nói hưởng lạc, còn kiếm Bạch Đế bị tùy tiện vứt sang một bên, chẳng ai đoái hoài.

“… Đoan Mộc Củ thử kiếm một lần liền thành công. Bạch Đế và Xuân Thần đặt kỳ vọng rất lớn vào hắn, bèn ban tặng thần kiếm, lại ban thêm thiên tài địa bảo, căn dặn hắn không được lơ là luyện kiếm, chờ thời cơ tới sẽ dùng kiếm phong ấn trọc khí, bảo vệ chúng sinh…”

“… Củ say mê danh tiếng và hư vinh, chìm đắm trong hưởng lạc, ngày ngày dẫn theo con nhỏ tên Liên tung hoành trong rừng, ngao du khắp nơi. Tộc nhân của hắn cũng phung phí sạch toàn bộ thiên tài địa bảo do thần linh ban tặng…”

“… Thời gian trôi nhanh, lại qua mấy năm, Thiếu Hạo đột nhiên giáng xuống Tốc Thủy. Thấy kiếm Bạch Đế đã mất hết ánh sáng, Đoan Mộc Củ cũng vì ngày ngày sống buông thả, bỏ bê luyện tập mà không còn có thể cầm kiếm, tộc nhân Đoan Mộc cũng chìm đắm trong hưởng lạc, từ bỏ kiếm đạo để sống qua ngày, Thiếu Hạo vô cùng phẫn nộ, giáng xuống thần phạt…”

Trên bức họa cổ thứ năm, quả nhiên vẽ cảnh thiên thần nổi giận, tộc nhân Đoan Mộc quỳ xuống nhận phạt.

“Tội bị thần phạt vô cùng nặng nề. Hồn phách tất cả tộc nhân Đoan Mộc đều bị khắc tội ấn, đời đời kiếp kiếp, vĩnh viễn không được tha thứ.”

“Kẻ mang tội ấn, sinh hồn khiếm khuyết, không được luân hồi chuyển kiếp; kẻ mang tội ấn, bị phạt tới canh giữ yêu quật, yêu cốc, có thần trận trấn giữ, đời đời nối tiếp, không được trốn thoát; kẻ mang tội ấn, ngoại trừ tộc trưởng, không được biết tội trạng của mình, sinh ra trong nơi tăm tối, cũng phải chìm khuất trong nơi tăm tối.”

Trên tấm bia đá thứ sáu là cảnh tộc nhân Đoan Mộc sau khi chịu thần phạt phải di cư tới các yêu quật, yêu cốc khắp nơi. Nhưng trọc khí chưa được phong ấn, yêu thú trong các yêu cốc hoành hành, khó lòng đối phó. Rất nhiều chi tộc đều bị tiêu diệt sau khi di cư.

Khi A Chức đọc tới cuối cùng, nàng nghe thấy một giọng nói vô cùng già nua. Chẳng biết đó là lời được vị tộc trưởng đời nào của Mộ thị lưu lại vào những năm cuối đời:

“Tộc nhân gần như diệt sạch, chỉ còn một nhánh tại Thương Hồn Cốc của ta tồn tại tới ngày nay. Thần linh tước bỏ họ cổ của tộc ta, về sau tộc ta đổi sang họ Mộ, cư ngụ bên vách núi Thương Hồn Cốc, vĩnh viễn chìm trong đêm tối, mòn mỏi trông mong một lối thoát.”

Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)

Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.

Viết bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)

Bạn có thể bình luận trực tiếp mà không cần đăng ký hoặc đăng nhập tài khoản.

Danh sách chương

Kiếm Xuất Sao (Kiếm Ra Khỏi Vỏ) · 120 chương