Chương 8: Vô Chi Kỳ (1) — “Ngươi đừng nói là lại trêu chọc cô nương nhà nào rồi đấy?”
“… Trong thư Khương gia gửi tới nói thế nào? Nói nhà họ có một đệ tử ra tay không biết nặng nhẹ, bất cẩn đánh bị thương Tình muội, ta vội vàng chạy tới xem, Tình muội căn bản chẳng có gì đáng ngại… Ta đã tới rồi thì không thể chạy một chuyến uổng công, dù sao cũng phải đòi một lời giải thích.”
“Bọn họ đồng ý rất đàng hoàng, nói sẽ bảo sư muội của Từ Tri Viễn tới bồi lỗi với ta, ai ngờ cái gì mà sư muội này căn bản chẳng phải hạng dễ bắt nạt. Sáng nay nàng ta quả thật quy củ tới đây, xin lỗi xong liền xòe tay với ta, nói ‘lỗi’ đã bồi rồi, ngọc quyết đâu?”
Hề Bạc Uyên nói đến đây, hít sâu một hơi: “Nhắc đến miếng ngọc quyết này mới thật vô lý. Trước đó ta gặp Từ Tri Viễn ở Bạn Nguyệt Hải, hỏi hắn Huy Sơn có động phủ tu luyện nào tốt không, hắn cứ ấp a ấp úng mãi. Sau ta nói với hắn, nếu khó xử thì thôi, hắn lại nói không khó xử, rồi đưa miếng ngọc quyết này cho ta. Kết quả ngươi đoán xem? Miếng ngọc quyết này là di vật của sư phụ hắn!”
Phía bên kia đá truyền âm “ừm” một tiếng, hỏi: “Khương Hà của Khương gia?”
“Đúng, di vật của Khương Hà!” Hề Bạc Uyên nói, “Ngươi nói xem cái tên Từ Tri Viễn này, dù ngươi có là con chuột thì cũng phải kêu ‘chít’ một tiếng chứ? Là di vật sao không nói sớm? Cái miệng mọc trên người ngươi để làm cảnh à?”
“Nhưng ta biết làm sao? Cái cô sư muội kia đòi ngọc quyết, ta bị đẩy tới thế ấy, chỉ có thể giải thích với nàng rằng miếng ngọc quyết này là ta mượn của Từ Tri Viễn. Rồi, chuyện vô lý nhất tới đây, trong đám đệ tử Khương gia có một kẻ họ Uông bước ra, hình như là Đại đệ tử Minh Nguyệt Nhai, hắn nói cô sư muội kia cũng chẳng có lý, vô duyên vô cớ chiếm một động phủ… Haiz, ta cũng chẳng nghe hiểu lắm, tóm lại hắn đứng ra nói giúp ta, còn nói muốn tỷ thí với sư muội kia một trận, nàng thắng mới coi như nàng có lý.”
“Ta nghĩ cái tên họ Uông ấy ít nhất cũng là Đại đệ tử, dù thế nào cũng không đến mức yếu chứ? Kết quả sư muội nhà hắn đến kiếm cũng chẳng rút, đã đánh vỡ luôn bội kiếm của hắn.”
Hề Bạc Uyên càng nói càng tức, chắp tay sau lưng đi qua đi lại trong phòng, đá truyền âm lơ lửng bên vai hắn.
Hắn vốn cao lớn, tính tình lại chẳng tốt lành gì, thấy hắn nổi giận như vậy, Trúc Ngột cùng Tô Tình Song bên cạnh đều không dám lên tiếng.
Hề Bạc Uyên nói: “Ta thật sự không hiểu, ngươi nói xem, đã là phế vật thì còn cố ra mặt làm gì? Ta bảo ngươi ra mặt thay ta à? Mắt ta mọc ra là để nhìn loại phế vật như ngươi làm trò cười sao? Ngay cả hạng biết lõm bõm như ta cũng nhìn ra cái trận phù của ngươi vẽ xiêu xiêu vẹo vẹo chẳng ra hình thù, vô duyên vô cớ để người ta dội ngược linh lực nghịch trận, hắn bị đánh văng khỏi kết giới, ngụm máu kia chỉ thiếu chút nữa là phun thẳng vào mặt ta!”
“Sau đó ta lại nghe cô sư muội kia nói, hôm ấy nàng vô tình làm Tình muội bị thương hình như là vì niệm Kiếm Dẫn Quyết? Haiz, chắc tai ta bị ngụm máu của tên họ Uông kia làm nghẽn rồi, chẳng biết có nghe nhầm không, cái cô sư muội này hình như vẫn luôn không rút được kiếm? Trận thuật của nàng rõ ràng chẳng tệ, thật không hiểu vì sao… Tóm lại, nghe ý nàng thì hôm ấy Tình muội bị thương, Khương Dục Hành cũng có trách nhiệm, chính là dượng của Tình muội… Haiz, bị bọn họ quấy cho rối tinh rối mù, giờ đầu ta vẫn còn đau, Huy Sơn này ta chẳng muốn ở thêm dù chỉ một ngày!”
Phía bên kia đá truyền âm bật cười một tiếng: “Bây giờ biết hối hận rồi, cái khí thế thương hoa tiếc ngọc lúc trước của ngươi đâu?”
Hề Bạc Uyên nhìn Tô Tình Song một cái.
Hắn có một tật, không chịu nổi nhất là nhìn nữ nhân khóc, đặc biệt là nữ nhân thân cận. Đích mạch Hề gia đời này chẳng có mấy nữ tử, Hề Bạc Uyên lại chưa thành thân, người gần gũi nhất đại khái chính là vị Tô biểu muội được hắn nhìn lớn lên này.
Hắn cảm thấy mình thương muội muội là chuyện đương nhiên.
Hề Bạc Uyên giải thích: “Ta vừa tới Huy Sơn, Tình muội thấy ta liền khóc, khăn tay cũng khóc ướt mấy cái!”
“Thế nào? Ngươi chê nàng tốn khăn?” Giọng bên kia đá truyền âm nhàn nhạt, “Được, ta gửi cho ngươi mấy cái, bạc tính vào phần ngươi.”
Hề Bạc Uyên: “…”
“Ngươi cũng nên nhắc nàng đôi câu, tu kiếm đạo làm gì, đổi sang tu khăn đạo không phải xong rồi sao? Cả đời có khóc cũng chẳng lo thiếu khăn dùng.”
Tô Tình Song nghe vậy không nhịn được nữa: “Hề Cầm ca ca, muội vẫn đang ở bên cạnh đấy!”
Hề Cầm khựng lại, dường như khẽ cười một tiếng, rồi nói: “Chẳng qua khóc ướt mấy cái khăn tay, ngươi đã phải ra mặt thay nàng, hôm nào hồ lô rượu của lão Trúc Ngột bị người Khương gia đập nát bét, chẳng phải ngươi nên san bằng Huy Sơn sao? Hai người họ, một kẻ là khăn tinh chuyển thế, một kẻ là hồ lô tinh đầu thai, ngươi…”
Không đợi hắn nói hết, Trúc Ngột cũng không nhịn được: “Cầm công tử, lão hủ cũng đang ở bên cạnh đấy!”
Ông lập tức bày ra dáng vẻ trưởng bối: “Theo lão hủ thấy, biểu tiểu thư vô duyên vô cớ cầm di vật của người ta, sau đó bị người ta đánh, chẳng phải đáng đời sao? Uyên công tử còn nhất quyết đòi phân xử cho biểu tiểu thư, lão hủ cản cũng chẳng cản nổi.”
Hề Bạc Uyên nghe vậy, nhớ tới dáng vẻ Trúc Ngột ung dung ngồi uống trà thưởng trà, mặc kệ chuyện chẳng liên quan tới mình, lập tức quay đầu chỉ tay vào ông: “Ông chỉ biết xem trò cười của ta.”
Tô Tình Song ấm ức giải thích: “Thật ra hôm ấy, vừa nghe nói ngọc quyết là di vật, muội đã muốn trả cho nàng ấy rồi, nhưng lúc đó Khương Ngộ cứ nhất định đuổi muội đi, giọng điệu cũng chẳng tốt lành gì, muội mới… Hơn nữa, cô mẫu và Mộc Hàm biểu tỷ dường như rất không thích nàng ấy…”
Hề Bạc Uyên mắng xong người này lại quay sang mắng người kia: “Ồ, muội biết đó là di vật? Muội biết là di vật mà ta tới đây, muội chẳng nói lấy một chữ? Muội cũng tuổi chuột à? Còn bảo ta phân xử cho muội? Lão tử rảnh rỗi không có việc làm, lại còn nợ muội, muội…”
Tô Tình Song nhìn hắn, vành mắt đỏ lên, lại sắp khóc.
Hề Bạc Uyên “muội” mấy lần mà vẫn không “muội” ra được câu nào, cuối cùng chán nản ngồi xuống một bên, nói với Hề Cầm: “Thật đấy, ta ở Huy Sơn này một ngày cũng không chịu nổi nữa, hay hai chúng ta rút đi.”
Hề Cầm đáp rất dứt khoát: “Được thôi.”
Trúc Ngột nói: “Hai vị tổ tông, lần này tới Khương gia tham dự Đại điển Mạnh Xuân là nhiệm vụ Linh Dạ Tôn đích thân giao cho hai vị, nếu việc chưa làm xong, hai vị về rồi lấy gì giao phó?”
Linh Dạ Tôn trong miệng Trúc Ngột chính là sư phụ của Hề Bạc Uyên.
Mấy ngày trước, Linh Dạ Tôn phát hiện phương hướng Huy Sơn có điều khác thường, liền bảo trưởng lão Hề gia là Trúc Ngột đi cùng hai vị công tử Hề gia tới đây dò xét.
Ai ngờ hai vị tổ tông này chẳng ai dễ quản, một người đi tới chân Huy Sơn bỗng nói có việc riêng phải làm rồi chạy mất; người kia thì quả thật đi thẳng lên Huy Sơn — nhưng là chạy lên để ra mặt cho biểu muội mình.
Được Trúc Ngột nhắc nhở, Hề Bạc Uyên hỏi Hề Cầm: “Nói chuyện đứng đắn, Đại điển Mạnh Xuân sắp tới rồi, bao giờ ngươi qua đây?”
Hề Cầm nghĩ một lát: “Đợi thêm hai ngày nữa đi, gần đây ta phát hiện một nơi khá thú vị.”
Còn đợi hai ngày? Đại điển Mạnh Xuân chỉ còn ba ngày nữa.
Hề Bạc Uyên nghe Hề Cầm nói vậy, nhớ tới gương mặt hắn: “Ngươi đừng nói là lại trêu chọc cô nương nhà nào rồi đấy?”
Hề Cầm khựng lại, bỗng bật cười: “Đừng nói, thật đúng là vậy.”
Hề Bạc Uyên không nhịn nổi: “Lão tử ở Huy Sơn chịu đủ giày vò, ngươi vậy mà lại —”
Còn chưa đợi hắn mắng xong, đá truyền âm lóe lên, linh lực cạn sạch, đứt liên lạc.
Vốn dĩ Hề Bạc Uyên tìm Hề Cầm để trút giận, ai ngờ tới cuối cùng lại bị Hề Cầm chặn ngược một cục tức, hắn ngồi dạng chân trước án, giơ tay đập mạnh xuống bàn, thanh trường đao nặng tựa ngàn cân cũng bị hắn làm cho nảy lên.
Tô Tình Song và Trúc Ngột sợ đến mức ngồi ngay ngắn, yên lặng như hai con chim cút.
—
Buổi chiều ở Huy Sơn vô cùng tĩnh mịch.
Gần đây xuất hiện yêu sát, mấy ngày nay lão thái quân cùng không ít người huyền môn tới thăm Huy Sơn đều đã ra ngoài, Khương Mộc Hàm lấy linh dược từ dược phòng rồi vội vàng đi về Minh Nguyệt Nhai.
Uông Châu bị A Chức đánh trọng thương, mấy ngày đầu thuốc không thể ngừng.
Khương Mộc Hàm đi được nửa đường, bỗng thấy phía sau tảng đá trước mặt có một người bước ra, chính là A Chức.
Khương Mộc Hàm nhạy bén nhận ra người tới không có ý tốt, ôm gói thuốc lùi lại mấy bước: “Ngươi ở đây làm gì?”
A Chức: “Đợi ngươi.”
“Đợi ta?”
A Chức đi thẳng vào chuyện: “Ngày Tiểu Tuyết, ngươi và ta xảy ra tranh chấp ở Thủy Minh Giản, trong lúc nóng giận ngươi nói sư phụ ta bị người ta hại chết, rốt cuộc ông ấy bị ai hại?”
Khương Mộc Hàm vừa nghe lời này, vẻ hoảng hốt thoáng hiện trên mặt: “Ta, ta chỉ thuận miệng nói thôi.” Nói rồi định đi vòng qua A Chức.
A Chức giơ ngang tay cản nàng lại, Khương Mộc Hàm đang định nổi giận, nhìn rõ thứ trong tay A Chức thì bỗng sững ra.
Đó là một lá phù rất nhỏ.
“Hôm nay ta tỷ thí với Uông Châu, bị một đạo linh quyết giấu trong vỏ kiếm làm bị thương. Khi ấy Uông Châu đang bận thúc động trận pháp, không thể rảnh tay đánh ra linh quyết, nhưng ta nhớ lúc đó hắn đã liếc ra ngoài kết giới một lần. Ngoài kết giới có người giúp hắn.”
Cho nên khi nghịch trận vào phút cuối, rõ ràng A Chức có thể trực tiếp đánh Minh Xà vào trận nhãn, như vậy Minh Xà sẽ vỡ nát triệt để hơn, nhưng nàng lại đánh một đạo linh quyết lên thanh linh kiếm Uông Châu cho nàng mượn trước, chính là để thần không biết quỷ không hay lấy lá phù giấu trong vỏ kiếm ra.
“Có người giúp Uông Châu giấu phù trong vỏ kiếm, nhân lúc ta và hắn giao chiến, âm thầm thúc động phù chú, khiến ta bị thương mà không ai hay biết. Sau khi lấy lá phù này ra, ta lần theo nguồn gốc một chút, trên đó là linh lực của ngươi.”
A Chức nói: “Nếu ta đưa lá phù này cho cha ngươi, cùng lắm ông ấy chỉ trách ngươi một hai câu, nhưng lão thái quân xưa nay xử sự không thiên vị, quy củ Huy Sơn lại nghiêm như vậy, nếu ta giao phù cho bà, ngươi sẽ thế nào?”
“Ngươi —”
“Hoặc là ta chẳng cần giao phù cho ai cả. Nhị tỷ nếu không ngại, ta có thể đấu với nhị tỷ một trận. Hôm qua Uông Châu làm hỏng kiếm gỗ của ta, hôm nay ta đánh vỡ Minh Xà của hắn, sư thúc sư thẩm chẳng phải cũng không nói gì sao? Xem ra kiểu tỷ thí có nguyên do như vậy, Huy Sơn vẫn ngầm cho phép. Hôm nay sau khi ta đấu với nhị tỷ, nếu không cẩn thận làm hỏng luôn bội kiếm của nhị tỷ, sau đó lấy lá phù ra chứng minh nhị tỷ ra tay hại người trước, Huy Sơn dù muốn phạt, cùng lắm ta lại tới Tư Quá Cốc kiểm điểm mấy ngày, còn nhị tỷ sẽ thế nào, ta không dám chắc.”
Khương Mộc Hàm nhìn A Chức.
Không hiểu vì sao, từ sau khi Tam muội này trở về từ Tư Quá Cốc, nàng vẫn luôn có chút sợ nàng.
Công bằng mà nói, hôm nay A Chức tỷ thí với Uông Châu, những chiêu thức linh pháp nàng sử dụng đều là thứ Huy Sơn từng dạy, cho dù cuối cùng nghịch trận quả thật khiến người ta kinh ngạc, Tam muội xưa nay chăm chỉ, từng được Đại sư bá đích thân dạy dỗ, hiểu trận pháp sâu hơn người khác một chút cũng chẳng lạ.
Có lẽ… có lẽ là bởi đêm ấy giữa gió cát ngập trời, A Chức lơ lửng giữa không trung, trong lòng bàn tay kết thành thứ cổ xưa giống như trận văn mà lại không hoàn toàn giống trận văn kia.
Khương Mộc Hàm cân nhắc tình thế rồi nói: “Đại sư bá ông ấy… quả thực bị yêu thú hại chết.”
A Chức nhíu mày: “Nói thật.”
“Ta nói thật.” Khương Mộc Hàm nói, “Ta còn biết Đại sư bá và con yêu thú hại ông ấy có chút duyên cớ, con yêu thú đó dường như là một con thú ăn trẻ sơ sinh.”
Nàng vừa nói vậy, A Chức liền nhớ ra, người tu đạo thường nơi nào có yêu sát thì xuất hiện nơi đó, hàng yêu diệt sát, vốn không có mục tiêu cố định, nhưng những năm qua Khương Hà lại luôn truy tìm tung tích một con yêu thú, dường như hắn quả thực từng nói với Khương Ngộ rằng mình đang tìm một con thú ăn trẻ sơ sinh.
A Chức hỏi: “Vậy vì sao ngươi lại nói ông ấy bị người ta hại chết?”
Khương Mộc Hàm do dự một lát, cẩn thận hỏi: “Ngươi từng nghe ‘vong binh tìm trẻ’ chưa?”
Thời cổ chiến trường thảm khốc, những tướng sĩ tử trận vì nhớ quê nhà, sau khi chết oán khí tụ mãi không tan. Những oán khí không thể trở về quê nhà ấy phải làm sao? Chúng sẽ tìm tới nơi có hơi người mới mẻ, mà hơi người mới mẻ nhất lại ở trên người trẻ sơ sinh vừa chào đời hoặc trẻ nhỏ, đây gọi là “vong binh tìm trẻ”.
Oán khí của vong binh tìm trẻ bắt nguồn từ nỗi nhớ cố hương, bản thân không có ác ý, vì vậy đứa trẻ bị oán khí tìm tới nhiều nhất cũng chỉ bệnh nặng một trận, đợi tà khí tan đi là không còn đáng ngại. Nhưng có một loài thú tên Yểm Thú, còn gọi là mạc, chuyên nuốt ý niệm của con người, oán niệm của vong binh tìm trẻ đối với chúng chẳng khác nào một bữa tiệc thịnh soạn, đợi chúng nuốt sạch những oán niệm ấy, một số Yểm Thú không chống nổi ảnh hưởng của oán niệm sẽ bắt đầu thích máu thịt trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, từ đó biến thành thú ăn trẻ sơ sinh.
Nói chung, thú ăn trẻ sơ sinh đều không quá mạnh, bởi Yểm Thú sống nhờ nuốt ý niệm, ý chí vô cùng kiên định, những kẻ có thể bị oán niệm đã nuốt xuống ảnh hưởng phần lớn đều là hạng yếu ớt.
Nhưng con mà Khương Hà truy tìm dường như không giống như vậy.
Khương Mộc Hàm nói: “Ta cũng là lén nghe được… Sau khi Đại sư bá qua đời, lão thái quân vẫn luôn điều tra nguyên nhân cái chết của ông ấy, về sau phát hiện Đại sư bá quả thật bị con thú ăn trẻ sơ sinh có duyên cớ với ông ấy hại chết.”
Nói tới đây, Khương Mộc Hàm bỗng đổi giọng: “Gần đây quanh Huy Sơn xuất hiện yêu sát, dân chúng ở mấy trấn xung quanh còn lên núi cầu cứu, chuyện này ngươi biết không?”
Đêm ấy A Chức trở về từ Tư Quá Cốc, đồng môn tên Ninh Ninh quả thực từng nhắc với nàng chuyện này.
A Chức không tỏ ý gì: “Nói tiếp.”
“Mấy trấn gần đây ban đầu có trẻ con vô cớ mất tích, sau đó lại phát hiện có… có phụ nhân mang thai bị mổ bụng, dân trấn không còn cách nào nên lên núi cầu cứu. Lão thái quân đích thân xuống núi điều tra, phát hiện tất cả đều do thú ăn trẻ sơ sinh gây ra, hơn nữa con thú này chính là con đã hại chết Đại sư bá hai năm trước.”
A Chức hỏi: “Ý ngươi là, sau khi hại chết sư phụ ta, gần đây con thú ăn trẻ sơ sinh này lại xuất hiện?”
Khương Mộc Hàm gật đầu: “Đêm ấy ta tới điện Mạnh Xuân tìm cha, đi ngang Thủ Lễ Đường, nghe thấy lão thái quân, cha, Tam sư thúc cùng mấy vị trưởng lão bí mật bàn chuyện của Đại sư bá — bọn họ không phát hiện ra ta, trên người ta có phù truyền âm cha đưa, giọng của bọn họ truyền qua phù — ta nghe lão thái quân nói, năm ấy Đại sư bá tuy bị con thú ăn trẻ sơ sinh này hại chết, nhưng con thú ấy cũng bị thương không nhẹ, hai năm nay vẫn chưa đi xa, cứ trốn quanh Huy Sơn.
“Đại sư bá vừa qua đời, lão thái quân đã xuống núi điều tra nguyên nhân cái chết của ông ấy. Nếu thú ăn trẻ sơ sinh ở ngay gần Huy Sơn, vì sao lão thái quân không tìm thấy nó? Bởi có người giúp nó che giấu tung tích, hơn nữa người này không thể là phàm nhân, chỉ có thể là người tu đạo của Khương gia ở Huy Sơn. Lão thái quân còn nói, con thú ăn trẻ sơ sinh này tung tích quỷ quyệt, Đại sư bá đối đầu với nó nhiều năm, trước giờ vẫn hết sức cẩn thận, nhưng hôm bị hại, lúc xuống núi ông ấy lại vô cùng vội vàng, dường như nhận được một tin tức xác thực nào đó.”
A Chức nói: “Ý ngươi là năm đó trên Huy Sơn có người cố ý tiết lộ tung tích thú ăn trẻ sơ sinh cho sư phụ ta, hại chết sư phụ ta, sau đó người này còn giúp con thú bị thương che giấu tung tích?”
Khương Mộc Hàm gật đầu: “Lão thái quân nói, Đại sư bá không phải người dễ tin người khác, cho nên người hại chết ông ấy nhất định là người thân cận.”
A Chức nghe vậy, như có điều suy nghĩ.
Những người thân cận với Khương Hà đều ở Huy Sơn.
Khương Mộc Hàm nhìn A Chức một cái, cẩn thận hỏi: “Ngươi muốn báo thù cho Đại sư bá?”
A Chức không phủ nhận: “Ừm.”
Khương Mộc Hàm nghĩ dù sao cũng đã nói nhiều như vậy, chi bằng nói hết cho nàng, tránh sau này nàng lại tới tìm mình gây phiền phức.
“Ngươi có thể xin lão thái quân cho tham gia thí luyện của Đại điển Mạnh Xuân.”
Ánh mắt A Chức rơi lên vân đăng phía sau Khương Mộc Hàm: “Thí luyện của Đại điển Mạnh Xuân chẳng phải chỉ người giữ núi mới có thể tham gia sao?”
Con đường tu đạo hiểm nguy trùng trùng, thường chỉ cần sơ sẩy một chút là tính mạng treo trên sợi tóc, thí luyện của Đại điển Mạnh Xuân không phải trò đùa, đó là cửa ải để đệ tử sơn môn Huy Sơn bước lên con đường tu đạo dài đằng đẵng, rất nguy hiểm, thậm chí có thể liên quan tới sống chết, trước kia cũng từng có đệ tử bỏ mạng trong thí luyện, vì vậy người không đủ năng lực không được tham gia.
Khương Mộc Hàm nói: “Đúng, nhưng ngươi đã đánh bại Uông sư huynh trong tỷ thí, theo quy củ, trước Đại điển Mạnh Xuân, người đánh bại người giữ núi có thể thay thế vị trí người giữ núi của hắn, hơn nữa Uông sư huynh bị ngươi đánh đến không dậy nổi, cũng chẳng thể tới Đại điển Mạnh Xuân nữa.”
Nàng tiếp tục nói: “Con thú ăn trẻ sơ sinh kia dù lợi hại, rốt cuộc cũng không phải đối thủ của lão thái quân cùng nhiều người huyền môn như vậy. Gần đây lão thái quân và mọi người đã tìm thấy tung tích của nó, nó bị thương, bị ép trốn vào núi, nội dung thí luyện của Đại điển Mạnh Xuân lần này chính là chém giết con thú ăn trẻ sơ sinh ấy.”
A Chức trầm ngâm một lát, thấy trời đã muộn, hỏi: “Ngươi nói thú ăn trẻ sơ sinh bị ép trốn vào núi gần đây, là ngọn núi nào?”
Khương Mộc Hàm kinh ngạc hỏi: “Ngươi muốn tự mình đi tìm nó?”
“Ngươi không cần quan tâm.”
“… Nhạc Trì Trấn, Tiêu Mi Sơn.”
—
Nhạc Trì Trấn, Tiêu Mi Sơn.
Dưới Tiêu Mi Sơn có một rừng long não, trăng vừa lên, trong rừng vốn tĩnh mịch, một lát sau lại vang lên tiếng bước chân.
Tiếng bước chân không nhanh không chậm, nhìn từ xa, người tới là một nam tử dáng người thon dài, bóng đêm che khuất mày mắt hắn, ánh trăng xuyên qua bóng cây, rơi một mảng lên vạt áo, soi rõ hoa văn tựa dòng suối trên đó, chính là Lăng Tuyền Văn, gia văn của Hề gia.
Bên cạnh nam tử còn có một bóng hình lúc thực lúc hư, tựa một màn sương đêm, khiến cả người hắn trông vừa như tiên vừa như yêu mị.
Một lát sau, nam tử dừng bước trong rừng, ngẩng mắt nhìn Tiêu Mi Sơn khổng lồ tĩnh mịch trước mặt, nói: “Tới rồi.”
Bóng hình lúc thực lúc hư dần hóa thành hình, cuối cùng biến thành một người áo đen khoác áo choàng, hắn đặt tay lên ngực hành lễ, hỏi: “Tôn chủ, con thú mẹ chúng ta tìm kiếm mấy ngày nay, đang trú ở nơi này sao?”
Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)
Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.