Kho truyện
Cỡ chữ Nền Mục lục
Lai Nhật Hữu Tín (Ngày Sau Có Tin)

Chương 47: Chốn đào nguyên

Đăng ngày 28/09/2026

Tiểu Dung Sơn nằm ở phía tây nam Đại Nghiệp.

Nơi này nằm sát Vị Châu, nhưng lại khác hẳn sự phồn hoa trù phú của Vị Châu, từ xưa đến nay vẫn là vùng đất nghèo khó, chỉ bởi đi xa thêm về phía nam là giáp với đất Nam Man, các dị tộc phương nam thường xuyên đến quấy nhiễu. Tiên đế từng mấy lần phái quan binh tới dẹp loạn, nơi đây mới dần dần yên ổn.

Sau khi đường thủy trên sông Quảng Tế ở Vị Châu được khai thông, dân cư Tiểu Dung Sơn càng thưa thớt. Đến năm Hy Ninh thứ hai mươi hai, trong thôn Sa Cừ trên Tiểu Dung Sơn tổng cộng chỉ còn hơn trăm hộ dân, phần lớn là người tộc Vân Ô, quanh năm sống trong núi bằng nghề săn bắn.

Bấy giờ đang là tháng hai, xuân đến sớm. Bên bờ sông Quảng Tế đột nhiên đổ xuống một trận mưa rào.

Những phụ nhân đang đan lưới đánh cá hai bên bờ vừa cuộn những tấm lưới dưới đất ôm về nhà, vừa gọi những chiếc thuyền phía xa mau chóng cập bờ. Một phụ nhân tốt bụng quấn khăn trên đầu đứng phía trước, hướng về chiếc thuyền nhỏ ngoài xa giữa sông gọi lớn: “Ngọc muội, lão Tiền, mau về đi!”

“Tới đây!”

Trên mặt sông truyền tới một tiếng đáp.

Chiếc thuyền nhỏ từ xa lắc lư xuôi dòng, dần tiến lại gần. Thuyền nhỏ đến mức có phần đáng yêu, ở đầu thuyền chỉ dựng một cánh buồm gai đã ngả vàng. Trong lúc ấy, từ khoang thuyền chui ra một cô nương trẻ tuổi mặc váy xanh thêu hoa đào, mái tóc đen dày búi trên đầu, một hai sợi tóc rối rơi xuống, dính vào vầng trán đẫm mồ hôi. Nàng dùng hai tay kéo lưới cá vào trong thuyền.

Tiền Tiểu Ngọc chui vào khoang, lau nước mưa trên người. Cha nàng, Tiền Hữu Phú, trên đầu quấn một chiếc khăn đỏ, đang ngồi trong khoang kiểm tra xem cá trong thùng đã chạy mất mấy con. Vừa ngẩng đầu, ông đã thấy Tiền Tiểu Ngọc ôm một bọc vải, gỡ hết lớp này đến lớp khác, rồi lấy từ bên trong ra một quyển thủ trát.

Cảnh tượng này chẳng hề xa lạ. Hai năm nay, hễ gặp ngày mưa, Tiền Tiểu Ngọc lại lấy quyển thủ trát ra lật tới lật lui xem xét. Có lần còn khoa trương đến mức hai cha con đang đi ăn tiệc nhà người ta vào ban đêm, giữa đường trời đổ mưa, Tiền Tiểu Ngọc lập tức quay đầu chạy thẳng về nhà, đến rượu mừng của người ta cũng chẳng uống, hại Tiền Hữu Phú phải xin lỗi mất bao lâu.

Nhưng ngoài việc Tiền Tiểu Ngọc tự nói một mình, trên quyển thủ trát ấy rõ ràng chẳng có chữ nào.

Đúng là ma chướng rồi.

“Lại xem quyển kinh rách của con đấy à?” Tiền Hữu Phú hừ một tiếng.

“Kinh rách gì chứ, đây là sách vận mệnh của hai cha con mình.” Tiền Tiểu Ngọc nghiêng người ngồi xuống, hít sâu một hơi rồi giơ tay lật thủ trát ra.

Trên thủ trát, nét chữ vẫn dừng lại ở lần trò chuyện trước, không có thêm chữ mới.

Nàng đợi hồi lâu, kỳ tích vẫn chẳng xảy ra, trang giấy trắng tinh, chẳng khác nào sắc mặt nàng lúc này.

Tiền Hữu Phú liếc thấy vẻ thất vọng của nàng, trêu: “Lợi hại thế cơ à, vậy con nói xem, số mệnh hai cha con mình thế nào? Sau này còn phát tài được không?”

Tiền Tiểu Ngọc mặc kệ lời châm chọc của cha, trong lòng có chút buồn bực. Rõ ràng trời đã mưa, đối phương vẫn không viết gì truyền tới.

Không phải xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn rồi chứ?

Chẳng lẽ chết rồi?

Tiền Hữu Phú thấy nàng không trả lời, cúi người vén rèm nỉ ra ngoài chèo thuyền. Tiền Tiểu Ngọc ngồi trong khoang, nắm chặt trang giấy, bên tai vang lên tiếng mưa tí tách ngoài thuyền, bất chợt hơi thất thần.

Đã hơn hai năm kể từ ngày trốn khỏi ngục huyện Thiên Hà.

Suốt hai năm, mãi cho đến hôm nay, thỉnh thoảng nửa đêm Tiền Tiểu Ngọc mơ lại đêm hôm ấy, vẫn giật mình tỉnh giấc trong mồ hôi lạnh.

Chỉ cần nhớ tới chuyện xảy ra khi ấy, trong lòng nàng vẫn còn sợ hãi.

Ngày rời huyện Thiên Hà, Giang Doãn Trực tha cho hai cha con một đường sống, Tiền Tiểu Ngọc dẫn cha chèo thuyền về phía Vị Châu. Đi được nửa đường, keo bong bóng cá dưới đáy thuyền đột nhiên bong ra, để lộ vết rạch, sau đó thuyền chìm.

Nước sông tháng mười lạnh buốt tận xương, bốn phía lại chẳng có bóng người. Ngay lúc hai cha con vùng vẫy trong tuyệt vọng, có lẽ số bọn họ chưa tận, vừa hay một chiếc thuyền cá trên đường trở về nhà trong đêm đi ngang qua nơi thuyền chìm, nghe thấy tiếng kêu cứu nên vớt hai người lên.

Người ngư dân ấy là người tộc Vân Ô, đang định trở về quê nhà ở Tiểu Dung Sơn. Tiền Tiểu Ngọc bèn bịa ra một thân thế đáng thương, khiến đối phương động lòng trắc ẩn, đưa hai cha con về thôn Sa Cừ. Ban đầu chỉ nói ở nhờ vài ngày, đợi vết thương lành sẽ đi, nhưng sau khi khỏe lại, hai người dứt khoát mặt dày ở lì không chịu rời đi.

Cứ thế ổn định lại.

Tiểu Dung Sơn nằm phía nam Vị Châu, quan binh Đại Nghiệp chẳng buồn quản chuyện nơi này, thôn Sa Cừ lại nằm sâu trong núi cao, hiếm có người ngoài tộc tiến vào. Tiền Tiểu Ngọc và Tiền Hữu Phú dựng tạm một túp lều ở đây, học theo người Vân Ô săn bắn đánh cá, miễn cưỡng cũng sống qua ngày.

Người trong thôn Sa Cừ không nhiều, dần dần dân bản địa cũng quen thân với hai cha con. Tiền Hữu Phú đã quen với cuộc sống yên ổn ở nơi đây, nhưng Tiền Tiểu Ngọc vẫn thường lấy thủ trát ra vào những đêm mưa, thử liên lạc với người nào đó ở mười năm sau thêm một lần nữa.

Nàng muốn biết rất nhiều chuyện.

Sau khi trốn khỏi huyện Thiên Hà, Đậu Mạc rốt cuộc thế nào, Giang Nguyên và Tình Vân có bị liên lụy hay không, đáy chiếc thuyền giúp bọn họ rời đi bị người ta động tay động chân, có phải do Triệu Chấn sai khiến?

Còn chiếc hộp kia……

Chiếc hộp từng được Đậu Mạc giấu trong nhà xí nhà nàng, sau đó lại bị nàng đào lên rồi chôn lại trong sân huyện nha, bên trong chứa bí mật mà Đậu gia liều chết cũng muốn bảo vệ, cuối cùng có rơi vào tay Triệu Chấn hay không?

Mười năm sau, người ở đầu bên kia thủ trát có vì lời “tâm nguyện” của nàng mà trở lại huyện Thiên Hà không? Nếu trở về, nơi chôn bí mật ấy rốt cuộc đã trống không, hay vẫn còn nguyên vẹn?

Nếu vẫn còn nguyên vẹn……

Người ấy có cầm vật chứng này, thay Đậu gia, thay hai cha con nàng, thay tất cả những người vô tội trong tai bay vạ gió này đòi lại một lẽ công bằng hay không?

Không thể biết được.

Thôn Sa Cừ dù sao cũng cách huyện Thiên Hà quá xa, mà kinh thành lại càng ở ngoài ngàn dặm, huống hồ giữa bọn họ còn cách nhau mười năm thời gian, chỉ có thông qua quyển thủ trát ấy mới có thể nói chuyện với nhau.

Nhưng sao lại chẳng còn động tĩnh gì nữa?

Tiền Tiểu Ngọc nghi hoặc.

Theo lý mà nói, chỉ cần vào đêm mưa, nàng sẽ có thể nói chuyện với đối phương trong khoảng một nén hương. Nhưng từ sau khi tới thôn Sa Cừ, vì khí hậu Tiểu Dung Sơn khác biệt, suốt hai năm liền ngay cả mùa đáng lẽ phải có mưa cũng xảy ra hạn hán, mưa rơi ít đến đáng thương, mỗi lần trời mưa chẳng khác gì ngày hội.

Lần trước trời mưa đã là ba tháng trước. Khi ấy nàng đang trên đường đi ăn rượu mừng, đến rượu cũng chưa uống đã vội vàng chạy về xem thủ trát, kết quả vẫn chẳng thấy gì.

Hôm nay trời mưa mà thư từ không thông, lần sau có mưa lại chẳng biết phải chờ tới bao giờ.

Trong lòng dâng lên chút buồn bã, cô gái vén rèm thuyền. Mưa nhỏ tí tách hòa trời đất thành một màu, xa hơn nữa trên sông Quảng Tế, mặt sông cùng đất trời nối thành một đường, đó là hướng Vị Châu.

Vị Châu……

Tiền Tiểu Ngọc hơi thất thần.

Vị Châu cách quận Đông Nguyên cũng không xa.

Nơi ấy là quê hương của Đậu Mạc.

……

Dòng sông dài rộng mênh mông chia đất trời làm hai.

Chỉ cách nhau một dòng nước, thời tiết Tiểu Dung Sơn thay đổi thất thường, quanh năm nóng bức, còn Vị Châu lại bốn mùa như xuân, khí hậu dễ chịu.

Tiếp giáp với Vị Châu chính là khu cầu cống quận Đông Nguyên.

Đang độ xuân về, hai bên đê quận Đông Nguyên liễu rủ thành hàng, én xuân nghiêng cánh. Một cây cầu đá dài rộng sừng sững trên mặt nước, tựa áng mây trắng nổi trên làn nước xanh. Tiểu thương gánh hàng đi qua cầu, phụ nhân váy đỏ xách một giỏ hoa hạnh rao bán, hương thơm lan khắp muôn nhà.

Xe ngựa dừng dưới rừng cây, từ trên xe bước xuống một nam tử trẻ tuổi tuấn mỹ. Một thân thanh bào nổi bật giữa sắc xuân, càng khiến non nước xung quanh đẹp tựa tranh.

“Chủ quân, đây chính là cầu đá quận Đông Nguyên.” Trúc Chân buộc ngựa xong, nhìn về cây cầu đá phía xa.

Hoắc Tầm nhìn theo ánh mắt hắn, dưới cầu sóng biếc dập dềnh, thuyền bè qua lại, trên cầu hoa rơi cỏ biếc, người qua kẻ lại, khắp nơi đều là cảnh xuân sông nước.

Chỉ vỏn vẹn mười năm, quận Đông Nguyên đã từ vùng đất cằn cỗi quanh năm chịu thủy hoạn quấy nhiễu biến thành đồng ruộng màu mỡ nhuộm đầy xuân sắc như hôm nay, tất cả đều nhờ cây cầu đá này cùng những con kênh lớn nhỏ.

Hoắc Tầm bước lên cầu đá.

Trên cầu xe ngựa nối dài như rồng, người đi lại đông đúc, có người tựa lan can nhìn xa, có người xách đồ ăn nóng rao bán dọc đường. Xa hơn nữa, một đám người ồn ào tụ lại, vây thành một vòng ở cuối cầu.

Đến gần mới nhìn rõ, ở cuối cây cầu lại dựng một ngôi miếu nhỏ đơn sơ, trong miếu có một pho tượng đá, là một nam tử trung niên mặc áo vải, mày mắt thanh tú, đứng giữa ngôi miếu, mỉm cười nhìn về hướng dòng nước dưới cầu.

Pho tượng đá này hẳn mới được tạc chưa lâu, được bảo quản rất tốt, tay nghề người thợ cũng tinh tế, khắc sống động như thật. Giữa đôi tay pho tượng đặt trước ngực lại được người ta cắm vào không ít cành đào mới nở.

Cả cây cầu đá ngập trong cảnh xuân náo nhiệt, hoa đỏ liễu xanh, chỉ riêng pho tượng này mang một màu xám trầm lặng, thế nhưng trong sắc xám ấy lại nhờ một cụm cành đào trong tay mà thêm phần sinh động tươi tắn.

Dưới chân tượng còn đặt không ít hoa quả tươi. Trúc Chân hỏi một lão nhân bên cạnh: “Lão trượng, pho tượng này tạc ai vậy?”

Trên tượng không khắc tên.

“Đây là ân nhân của quận Đông Nguyên, Đậu đại nhân Đậu Văn Thư!” Lão nhân run run đặt một nhánh liễu dưới chân tượng, chỉ về dòng nước dưới cầu, “Cây cầu đá này chính là do ngài ấy dẫn người xây nên!”

Đậu Văn Thư!

Trúc Chân sửng sốt.

Trúc Chân lại nhìn sang Hoắc Tầm bên cạnh, thấy thần sắc hắn không hề bất ngờ.

Đã gần nửa năm kể từ khi điều tra lại vụ án Đậu gia ở quận Đông Nguyên.

Vốn dĩ lật lại án cũ, nhất là án cũ từ mười năm trước, tuyệt đối không phải chuyện dễ dàng, huống hồ người bị hại của Đậu gia đã không còn ai sống trên đời.

Thế nhưng cuốn sổ Hoắc Tầm lấy ra lại khiến tất cả mọi người bất ngờ.

Trong sổ ghi chép tường tận chứng cứ tham ô cùng những khoản tiền qua lại giữa quận thủ quận Đông Nguyên Triệu Chấn với tri phủ các châu và các quan viên quyền thế mười năm trước, phạm vi liên lụy rộng đến mức khiến người ta líu lưỡi.

Thiên tử nổi giận lôi đình, hạ chỉ điều tra triệt để, thế là một loạt những người liên quan tới án cũ đều bị sa lưới, trong ngoài triều đều chấn động, ai nấy bất an. Hoắc Tầm không để tâm những chuyện ấy. Là một “khốc lại”, hắn lấy việc hành hạ phạm nhân làm vui, nhất thời hình phòng Binh mã ty chật kín người, những cực hình mới nghĩ ra lại có thêm cơ hội thử nghiệm, danh tiếng tham tàn hiếu sát của hắn càng khiến người ta khiếp sợ.

Triệu Chấn đã bị xử bằng hình phạt băm xác thành tương hai tháng trước.

Hình phạt băm xác thành tương tuy chỉ dùng cho những kẻ tội đại ác cực, trước kia cũng chỉ áp dụng với kẻ phản quốc làm loạn. Nhưng Đậu Văn Thư bị Triệu Chấn vu cáo hãm hại đến mức cả nhà diệt vong, vốn nên là một công thần lưu danh muôn đời. Kẻ tàn hại trung lương, lừa vua hại nước như Triệu Chấn, chết cũng không đủ đền tội, thiên tử đồng ý để Hình bộ dùng hình phạt này.

Ngày hành hình, Hoắc Tầm đích thân giám hình.

Triệu Chấn cùng bè đảng quỳ trên pháp trường. Trước mắt mọi người, ban đầu hắn lớn tiếng mắng Hoắc Tầm là tên gian nịnh, đến khi dao bạc của đao phủ chém loạn xuống, tiếng mắng chửi giận dữ dần biến thành cầu xin, cầu xin biến thành gào thét thê lương, cuối cùng chỉ còn một bãi thịt nát trên pháp trường, đỏ trắng trộn lẫn, không còn phân rõ ai là ai.

Những con chó dữ đã bị trói sẵn được thả ra, chỉ trong chốc lát đã liếm sạch thịt tương trên đài hành hình. Không ít người tới xem hành hình nôn ngay tại chỗ, duy chỉ Hoắc Tầm giám hình vẫn bình tĩnh như thường, ngay cả mày cũng chẳng nhíu lấy một cái, càng khiến người ta kinh hãi.

Triệu Chấn đã chết, nỗi oan của Đậu gia cũng xem như được rửa sạch. Hoắc Tầm đích thân tới quận Đông Nguyên một chuyến để xử lý một số chuyện cũ trong vụ án Đậu gia năm xưa. Dù sao Triệu Chấn đã chết, những kẻ có liên quan với hắn hiện giờ xem ra đều đã lần lượt sa lưới, nhưng cuốn sổ ấy vẫn còn những chỗ ghi chép chưa tường tận.

Trúc Chân nhìn những bá tánh đang cầu phúc trước pho tượng, cảm thán: “Chẳng trách Triệu Chấn có thể dựa vào công trạng ở quận Đông Nguyên mà diễu võ giương oai nhiều năm như vậy, quả thật là công lao lưu truyền ngàn thu. Nơi này giờ chẳng thua kém kinh thành.”

Hắn lại nhìn pho tượng, lẩm bẩm: “May mà đã rửa được oan.”

Trước khi vụ án cũ Đậu gia ở quận Đông Nguyên được xét lại, thanh danh Đậu Văn Thư tại quận Đông Nguyên chẳng mấy tốt đẹp.

Chuyện năm ấy, bá tánh không biết nội tình. Triệu Chấn lấy cớ Đậu Văn Thư tham ô ngân khoản công trình để lừa dối thiên hạ, ban đầu bá tánh không tin, nhưng nghe nhiều rồi cũng dần bán tín bán nghi.

Tham ô số tiền triều đình cấp để sửa cầu chẳng khác nào động đến lợi ích của bá tánh, sao họ có thể không oán?

Cũng có không ít người, nhất là những người thợ từng theo ông xây cầu năm đó, không tin lời quan phủ. Nếu Đậu Văn Thư thật sự đục khoét bỏ túi riêng, sao cuối cùng nhà ông lại sa sút đến mức phải bán cả nhà cửa cửa tiệm, sống còn chẳng bằng bá tánh bình thường?

Chỉ là quan phủ kiểm soát chuyện này quá nghiêm ngặt, cho dù trong lòng nghi ngờ cũng chẳng ai dám công khai đối đầu. Thêm vào đó Đậu Văn Thư là “phạm quan”, sau khi ông cùng người nhà chết đi thậm chí chẳng có lấy một ngôi mộ hay một tấm bia. Người có lòng muốn tế bái cũng chẳng biết đi đâu.

Cứ thế kéo dài bao năm.

“Triệu Chấn, tên khốn vô liêm sỉ ấy, ngay cả một ngôi mộ cũng không để lại cho Đậu đại nhân, chỉ có thể tạc pho tượng đá này. Đậu đại nhân à…… giờ ngài cũng nhìn thấy rồi, người quận Đông Nguyên đã được sống những ngày tốt đẹp, không còn chịu khổ vì thủy hoạn nữa.” Một phụ nhân lớn tuổi chắp hai tay, vái lạy pho tượng.

Pho tượng im lặng không nói, chỉ mỉm cười nhìn về phía xa. Hai bên đê nơi ấy, liễu xanh mơn mởn, đương độ xuân về chồi non vừa nhú, cả một vùng đào nở rực rỡ đỏ hồng, muôn cành khoe sắc, chính là những cây năm xưa ông cùng bá tánh trồng khi cây cầu đá vừa xây xong.

Người trồng hoa đã không còn, lại thêm một mùa xuân.

Hoắc Tầm xoay người bước xuống cầu đá, Trúc Chân vội vàng theo sau.

Bên bờ sông dưới cầu dựng rất nhiều quán trà, hai người tìm một quán ngồi xuống. Quán trà vừa khéo dựng dưới một cây đào, khi tiểu nhị mang trà lên, trong chén sứ trắng còn nổi một hai cánh hoa đào đỏ thắm, khiến làn nước trà trong veo cũng như nhuốm chút sắc hoa.

Trúc Chân nhìn mà thấy mới lạ, Hoắc Tầm lại khẽ cau mày, đặt chén trà trong tay xuống, bảo tiểu nhị chỉ cần đổi cho hắn một chén trà thanh là được.

Tiểu nhị còn chưa kịp động, phía sau đã truyền tới một giọng trêu chọc.

“Đây là ‘Đào Hoa Lưu Thủy’, chỉ quận Đông Nguyên mới có, nơi khác muốn cũng chẳng tìm được.”

Hoắc Tầm ngẩng mắt.

Trước mặt là một nam tử trẻ tuổi, khuôn mặt thoa phấn trắng nõn, trên người mặc trường bào gấm hoa văn lá sen mẫu đơn dệt chỉ vàng, trong tay xoay hai viên hạch đào bằng ngọc tròn bóng, ăn mặc vô cùng lòe loẹt. Bên hông còn treo tới bốn năm quả cầu hương bằng tơ vàng, vừa tới gần đã ngửi thấy hương thơm nức mũi.

“Người khác muốn uống còn chẳng được, thật đúng là phí của trời.” Người nọ bĩu môi, cầm lấy chén trà từ tay tiểu nhị, nói: “Đưa ta.”

Hắn ngồi xuống đối diện Hoắc Tầm, thong thả nâng chén trà lên, khẽ thổi mấy cái rồi mới chậm rãi nhấp một ngụm, hơi nheo mắt như đang thưởng thức. Rất lâu sau mới thở ra một hơi dài, ngâm:

“Xưa nay danh độc lập,
Vốn tự hiệu khuynh thành.
Mày liễu ngang mi nở,
Đào hoa ánh mặt sinh.”

Hoắc Tầm lạnh nhạt nhìn hắn làm bộ làm tịch, không lên tiếng.

Người nọ ngâm thơ một hồi, thấy chẳng ai để ý, dường như cũng cảm thấy hơi ngượng ngùng, bèn ngẩng mắt đánh giá Hoắc Tầm, khẽ ho một tiếng. Giọng vẫn chẳng mấy cung kính, thậm chí còn mang một hai phần châm chọc quái gở: “Đúng là chuyện lạ, ngọn gió nào lại thổi ngài tới đây vậy, biểu đệ?”

Hoắc Tầm lạnh nhạt lên tiếng:

“Hàn Vân Sơn.”

Người trước mắt chính là vị biểu huynh chẳng biết đã cách bao nhiêu đời của hắn, thiếu gia nhà đệ nhất phú thương Đại Nghiệp, Hàn Vân Sơn.

Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)

Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.

Gửi phản hồi