Chương 85: Vũ Thủy (2)
Mùng bảy tháng sáu, Mang Chủng vừa qua, thời tiết dần nóng lên, Hoàng Thái hậu mới dọn tới Thọ Khang cung chưa bao lâu, lúc này đang tựa trên một chiếc giường mềm, miễn cưỡng nhấp mấy ngụm trà thuốc rồi mới lại cúi mắt nhìn nữ tử đang quỳ trước mặt đấm chân cho mình: “Ta dọn sang đây chính là để nhường Trường Định cung cho con, sao con cũng theo tới đây?”
Lưng Hoa Nhược Đan cứng lại trong thoáng chốc, nhưng rất nhanh nàng đã không để lộ cảm xúc, cụp mắt: “Hầu hạ Thái hậu lâu rồi, nhất thời Nhược Đan vẫn có chút không yên lòng, sợ người không chịu uống thuốc, lại sợ ban đêm người ngủ không ngon, cũng không biết hương họ đốt có hợp ý người hay không, còn…”
Như chợt nhận ra mình nói quá nhiều, nàng dừng một lát: “Nhược Đan muốn hầu hạ người.”
Nàng rũ mày cụp mắt, bên dưới vẻ ngoài nhu thuận ấy là sự nóng nảy như có vô số con kiến bò qua lòng, Tiên đế băng hà, tân đế đăng cơ, một đạo thánh chỉ ban xuống, Hoàng hậu Lưu thị được tôn làm Hoàng Thái hậu đương triều, mà Trường Định cung là tẩm cung của Hoàng hậu, Lưu Thái hậu dọn ra khỏi đó chẳng khác nào thừa nhận nàng chính là Hoàng hậu tương lai.
Tiên đế mới mất, theo lễ pháp, tân đế phải sang năm mới có thể nghênh cưới Hoàng hậu, nhưng mấy tháng gần đây, mỗi khi Khương Hoàn ra vào Trường Định cung đều sẽ dùng một ánh mắt đầy thâm ý đánh giá nàng.
Ánh mắt ấy mang tính xâm lấn quá mạnh, khiến nàng chẳng thể né tránh.
Có lúc Khương Hoàn vừa mới thỉnh an Lưu Thái hậu xong, chỉ cách một bức bình phong, ngay sau đó hắn đã vươn tay chạm tóc mai nàng, hoặc dùng ngón tay nâng cằm nàng lên, không chút kiêng dè mà nhìn chằm chằm nàng.
Hoa Nhược Đan không dám tránh, bởi người đó là thiên tử.
“Đứa trẻ ngoan, tâm ý của con với ta, ta đều nhìn thấy.”
Lưu Thái hậu không biết trong lòng nàng đang nghĩ gì, nghe những lời này liền cảm thấy vô cùng dễ chịu, trong cung vẫn quá cô quạnh, cho dù Hoàng đế là nhi tử của bà, hắn cũng không thể ngày nào cũng tới thăm, bởi vậy lúc này thần sắc Lưu Thái hậu nhìn Hoa Nhược Đan càng thêm ôn hòa: “Nhưng dù sao con cũng sắp làm Hoàng hậu rồi, đâu phải cung nga bên cạnh ta, chẳng lẽ sau này con và Hoàng đế thành hôn rồi vẫn ngày ngày ở đây chăm sóc một bà già như ta sao?”
Hoa Nhược Đan cụp mắt, cổ họng hơi khô: “Người không già, một chút cũng không.”
Thật ra Lưu Thái hậu hiện giờ cũng chỉ hơn bốn mươi tuổi, căn bản chưa thể gọi là già, nhưng dù muôn vàn bảo vật trong cung gìn giữ dung mạo bà không đổi, đôi mắt ấy lại đã mang theo vẻ già nua trầm nặng vượt xa tuổi tác: “Đứa trẻ này, miệng ngọt thật.”
Lưu Thái hậu cười một tiếng, sau đó nắm lấy một tay Hoa Nhược Đan: “Ta thấy Hoàng đế có lòng với con, sang năm sau khi hai đứa đại hôn nhất định sẽ vô cùng hòa thuận, lúc nó còn là hoàng tử ta chưa vội chọn chính phi cho nó, không ngờ trì hoãn một chút lại chờ được một cô nương tốt như con.”
Hoa Nhược Đan kéo khóe môi, miễn cưỡng nở chút ý cười.
“Nhược Đan.”
Lưu Thái hậu bỗng gọi nàng, thấy nàng ngẩng đầu lên mới hỏi: “Nói cho ta biết, con có muốn làm Hoàng hậu không?”
Hoa Nhược Đan nhìn Lưu Thái hậu trước mặt, người từng mẫu nghi thiên hạ nhiều năm, toàn thân mang khí độ ung dung tôn quý, nàng nhớ tới ngày tân đế đăng cơ, Thái hậu đội mũ phượng sáu rồng ba phượng, đứng trên bậc ngọc nhìn xuống chúng sinh, ánh mắt nàng khẽ lóe, buột miệng: “Muốn.”
Trong mắt Lưu Thái hậu lộ chút ý cười, bà vỗ mu bàn tay Hoa Nhược Đan: “Đã muốn làm thì phải cam tâm tình nguyện giao cả đời mình cho hoàng thành này, giao cho Hoàng đế, nó là Hoàng đế, con là quốc mẫu, cho dù gần đây Hoàng đế nạp nhiều phi tần như vậy, trên đời này nữ nhân có thể sánh vai đứng cạnh Hoàng đế chỉ có con.”
Hoa Nhược Đan nghe vậy, miễn cưỡng kéo khóe môi, trong lòng lại sinh thêm nhiều mông lung.
Từ đêm trong nha môn huyện Nghiêu, nàng nhìn thấy vị Ngũ hoàng tử điện hạ kia dừng chân quay người giữa cây cỏ sum suê, hỏi nàng câu đầu tiên, khoảnh khắc nàng bước xuống bậc đá đi về phía hắn đã là một lời đáp kín đáo.
Ai ngờ phong vân biến đổi, ngay từ nước cờ đầu tiên, nàng đã đi sai đường.
“Nương nương, Nhược Đan muốn cầu người một ân điển.”
Hoa Nhược Đan bỗng quỳ rạp xuống.
“Con đứng lên nói là được.” Lưu Thái hậu nói.
Hoa Nhược Đan nhịn cảm giác tê ở hai chân đứng dậy, vẫn cúi mày rũ mắt: “Mấy ngày nữa Nhược Đan muốn xuất cung tới Tế Ân tự lễ Phật, thứ nhất là cầu phúc cho nương nương, mong người thân thể khỏe mạnh, thứ hai…”
Hoa Nhược Đan mím môi: “Thứ hai, Nhược Đan muốn nhờ thần Phật báo cho linh hồn phụ thân dưới suối vàng biết rằng Nhược Đan vẫn bình an, xin người yên lòng.”
“Con có lòng hiếu thảo như vậy, sao ta không cho phép?”
Lưu Thái hậu gật đầu, nhìn dáng vẻ trẻ trung tươi đẹp của Hoa Nhược Đan, bỗng thở dài, giọng thêm đôi phần phức tạp: “Ta cũng từng trẻ, thừa lúc còn chưa sắc phong, con muốn ra ngoài ta sẽ không ngăn, nhưng sau này làm Hoàng hậu rồi thì phải lấy lễ pháp hoàng gia làm đầu, không thể muốn gì làm nấy nữa.”
“Vâng.”
Hoa Nhược Đan cúi người.
Trời vừa chập tối, Lưu Thái hậu vì tinh thần mệt mỏi mà ngủ trước, Hoa Nhược Đan vừa trở về điện phụ thì có một hoạn quan từ Vạn Cực điện tới, Vạn Cực điện chính là tẩm điện mới của Khương Hoàn hiện giờ.
Hoạn quan kia vào điện phụ, thấy Hoa Nhược Đan đang ngồi trước bàn uống trà liền dè dặt bước lên quỳ xuống: “Tiểu thư, Lưu Đốc công sai nô tỳ tới truyền lời.”
Hoa Nhược Đan cụp mắt: “Lời gì?”
Hoạn quan chống hai tay lên nền gạch, nói: “Lưu Đốc công nói Khâm Thiên Giám đã chọn được ngày tốt, ngày mười ba tháng này xin tiểu thư dọn tới Trường Định cung, tối ngày mười ba, bệ hạ cũng sẽ tới Trường Định cung thăm người.”
Chén trà trong tay Hoa Nhược Đan nhất thời không cầm vững, rơi xuống đất vỡ tan, chỉ trong khoảnh khắc, huyết sắc trên mặt nàng rút sạch, hoạn quan thấy vậy đến thở mạnh cũng không dám, ngay cả đầu cũng chẳng dám ngẩng.
Chẳng biết bao lâu sau, hoạn quan mới nghe nàng nhàn nhạt nói một tiếng: “Biết rồi.”
Sau khi hoạn quan đi, cung nga thân cận Bình Hoa vừa sai người dọn mảnh sứ dưới đất vừa giúp Hoa Nhược Đan ngồi trước gương tháo trang sức: “Tiểu thư, bệ hạ thật lòng đối tốt với người, mấy ngày nữa chúng ta tới Tế Ân tự rồi thì cứ để người bên dưới chuyển đồ dùng của người về Trường Định cung đi, như vậy…”
Đột nhiên đối diện đôi mắt lạnh băng của Hoa Nhược Đan trong gương, giọng Bình Hoa lập tức im bặt.
Hoa Nhược Đan nhìn gương mặt bất an của Bình Hoa phản chiếu trong gương, cười lạnh một tiếng, Khương Hoàn đối với nàng chẳng qua chỉ có sắc dục khiến người ta buồn nôn.
Câu Lưu Cát sai người truyền tới chính là một tín hiệu.
Cho dù chưa cử hành đại lễ sắc phong, tối ngày mười ba nàng cũng bắt buộc phải ở Trường Định cung chờ Hoàng đế lâm hạnh.
Chưa có danh phận đã có sự thật, với một thế gia nữ như nàng, đó là sự nhục nhã đến mức nào.
Khương Hoàn tàn bạo đa nghi, tới giờ vẫn canh cánh trong lòng chuyện Khương Biến từng bảo vệ nàng ở Minh Viên, những hành động khinh bạc của hắn suốt thời gian qua đều là cố ý làm nhục nàng.
Hoa Nhược Đan nhìn chính mình không biểu cảm trong gương, ngón tay co lại, móng tay ghim vào lòng bàn tay, càng đau nàng càng tỉnh táo.
Nàng không trốn thoát được.
Huống hồ, vì sao phải trốn? Thứ nàng muốn chẳng phải chính là trở thành Hoàng hậu sao?
Hoa Nhược Đan cho lui tất cả cung nhân, một mình ngồi bên nến, lấy từ trong ngực ra một chiếc túi thơm, bên trong có một quả cầu hương bằng bạc chạm rỗng, nàng mở ra, trong đó không đựng hương liệu mà là những mảnh giấy mỏng dai, tổng cộng mười ba mảnh, trên mỗi mảnh đều vẽ một nhành hoa sống động như thật, ngoài mười hai Hoa thần, trên mảnh giấy thứ mười ba là một nhành đỗ quyên đỏ tươi.
Nàng nhìn rất lâu.
Nhìn suốt nửa đêm, Hoa Nhược Đan thu chúng lại vào túi thơm, đầu ngón tay vuốt ve cánh hoa đỗ quyên thêu trên túi, cuối cùng nàng giơ tay đưa nó tới gần ngọn nến, ngọn lửa rất nhanh bùng lên.
Hai ngón tay buông ra, chiếc túi rơi vào chậu đồng trước mặt.
Nàng ngồi trơ cả đêm, nhìn chiếc túi cùng những thứ bên trong cháy thành tro.
Năm ngày sau, trời có mưa nhỏ, Hoa Nhược Đan còn chưa chính thức sắc phong, cũng chưa có thân phận, chưa thể dùng nghi trượng Hoàng hậu, nàng cũng không muốn phô trương quá lớn, chỉ có cấm quân đội mưa đi theo hộ tống tới quốc tự Tế Ân.
Phía Khương Hoàn vừa nghe tin từ Thọ Khang cung truyền tới, nói đồ dùng của Hoa Nhược Đan đã được chuyển về Trường Định cung, lúc ấy hắn đang xem phiếu nghĩ của Nội các, vừa bác bỏ người mà Phùng Ngọc Điển đề cử làm chủ tướng bình loạn La Châu, còn nổi giận một trận lớn, Lưu Cát mang tin này tới vốn là để hạ hỏa cho Khương Hoàn, quả nhiên sau khi nghe xong, Khương Hoàn nhớ tới gương mặt Hoa Nhược Đan, lại nhớ cuộc hẹn ở Trường Định cung tối nay, trong lòng dễ chịu hơn một chút.
Nào ngờ đúng lúc ấy ngoài điện có cung nhân chạy vào, “bịch” một tiếng quỳ xuống: “Bệ hạ! Hoa tiểu thư bị người ta cướp đi ở hậu sơn Tế Ân tự rồi!”
Sắc mặt Khương Hoàn vừa mới dịu đi lập tức tối sầm: “Cái gì?!”
Theo lý mà nói, bên cạnh có cấm quân, còn có người Tri Giám Ty, thêm nữa Tế Ân tự lại là quốc tự, vốn không nên xảy ra sơ suất như vậy, nhưng nghe nói những người kia ai nấy võ công cao cường, lặng lẽ mai phục trong hậu sơn, vừa hay Hoa tiểu thư muốn ở một mình trong đình râm mát phía sau núi, bên cạnh chỉ có một cung nga Bình Hoa, không cho người khác tới gần, vì thế mới cho đám giang hồ đạo tặc to gan lớn mật ấy cơ hội.
Bình Hoa chết ngay trong đình, Tri Giám Ty cùng cấm quân lập tức lục soát hậu sơn nhưng tạm thời không thu hoạch được gì, Khương Hoàn thịnh nộ, lại bảo Lưu Cát hạ một đạo thủ lệnh cho Tử Lân Sơn.
Hậu sơn Tế Ân tự thật ra không dễ giấu người đến vậy, binh lực vừa tăng lên thì không còn chỗ lẩn trốn, nhưng những người bắt Hoa Nhược Đan đi ai nấy đều cạo trọc đầu, mấy tháng trước đã thật sự xuất gia ở Tế Ân tự, chỉ vì mưu tính một chuyện này, bởi vậy chuẩn bị cũng xem như kín kẽ.
Hoa Nhược Đan bị họ đưa ra khỏi thành, lúc này mới từ từ tỉnh lại, thấy mình đang ở trên lưng ngựa liền lập tức giãy giụa, người phía sau vội giữ vai nàng: “Hoa tiểu thư, bọn ta là người Ngũ hoàng tử điện hạ phái tới đón người!”
Hoa Nhược Đan cứng người, quay đầu nhìn cái đầu trọc dính nước mưa của người này, cảnh giác nói: “Đừng nói bậy! Ngũ hoàng tử vì sao phải đón ta?”
“Xin người tin chúng ta.”
Người kia chỉ nói vậy.
Hoa Nhược Đan lại giơ tay giành dây cương trong tay hắn: “Thả ta về! Các ngươi ẩn mình trong quốc tự, sao biết chắc ta nhất định sẽ tới? Rốt cuộc các ngươi có mưu đồ gì? Nếu đương kim bệ hạ biết…”
Người kia vội nói: “Tiểu thư! Điện hạ nói, một khi người đã có quyết định lớn thì sẽ tới chùa lễ Phật!”
Toàn thân Hoa Nhược Đan chấn động, đôi mắt hạnh mở lớn hơn, nhất thời quên cả giãy giụa.
Khương Biến biết…?
Biết nàng có lẽ sẽ thuận nước đẩy thuyền, lựa chọn một con đường khác?
“Cung nga bên cạnh người là người của Khương Hoàn, cho nên ty chức chỉ có thể giết nàng ta trước.”
Người phía sau lại nói.
Hoa Nhược Đan hồi lâu mới hoàn hồn, thấp giọng: “Ta biết.”
Từ khi ở Minh Viên, Bình Hoa cố ý dẫn nàng tới hiên phụ, nàng đã biết rồi.
Người kia lấy từ trong ngực ra một thứ đưa cho nàng: “Điện hạ còn nói, ngay từ đầu hắn đã biết dụng ý của người, cũng như người ngay từ đầu đã hiểu dụng ý của hắn, nhưng chuyện hôm nay nằm ngoài những điều ấy, hắn muốn hỏi người, nếu hắn tới đón, người còn muốn đi cùng hắn không?”
Hoa Nhược Đan nhìn rõ chiếc túi trong tay hắn, hàng mi run lên, chẳng biết mang tâm trạng gì, nàng nhận lấy rồi mở ra.
Bên trong vẫn là một mảnh giấy mỏng dai, trên đó in một nhành đỗ quyên đỏ tươi.
Phụ thân từng nói với nàng, ngoài mười hai Hoa thần, đỗ quyên đỏ nên là vị thứ mười ba, ông thích đỗ quyên đỏ, nên nàng mới có tên Nhược Đan.
Khớp ngón tay Hoa Nhược Đan lập tức siết lại, bóp nhăn chiếc túi, cả nhành đỗ quyên đỏ cũng méo đi.
Thứ nàng đã đốt thành tro, giờ lại chết đi sống lại ngay trước mắt nàng.
“…Hắn ở đâu?”
Rất lâu, rất lâu sau, Hoa Nhược Đan phát hiện ngựa đã dừng lại, người phía sau nàng, thậm chí tất cả những người đang cưỡi ngựa đều dừng, bọn họ đang đợi câu trả lời của nàng.
“La Châu.”
Người kia không hề do dự đáp.
Hoa Nhược Đan không ngờ hắn thật sự sẽ nói, hoặc nên nói, nàng không ngờ Khương Biến lại cho phép người này nói thẳng nơi hắn đang ẩn thân.
Trong rừng trúc mưa rơi xào xạc, nhưng bọn họ dường như nhạy bén phát hiện chút động tĩnh khác thường, nhất thời mấy người tung người xuống ngựa rút đao, chắn trước Hoa Nhược Đan.
Cành trúc lay động, phát ra tiếng sột soạt.
Một người đầu trọc ngẩng mặt, chỉ thấy thứ gì đó từ trên cao nhảy xuống đất, nhìn kỹ mới phát hiện đó là một con mèo, một con mèo mướp lông ướt sũng, tròn trịa béo tốt.
Hoa Nhược Đan cũng nhìn thấy con mèo kia.
Quá quen mắt.
Nàng lập tức ngẩng đầu, từ sâu trong rừng trúc hun hút dường như thấp thoáng truyền tới tiếng trang sức bạc va nhau trong trẻo, chẳng bao lâu, rừng trúc lay động, một bóng áo tím đạp cành theo gió mà tới, xoay người đáp xuống đất, những chiếc lá bạc trên chuỗi xích bên eo văng ra vài giọt mưa nhỏ, đôi đoản đao đeo hai bên hông, nằm trong vỏ đao phủ đầy hoa văn bạc.
Hoa Nhược Đan nhìn rõ mặt nàng, nhưng đột nhiên sững lại, mày mắt vẫn lạnh như trước, nhưng lại có một vẻ thanh hàn toát ra từ tận xương, rõ ràng đường nét mày mắt đã có chút thay đổi tinh tế, đó là vẻ đẹp thần bí, diễm lệ hoàn toàn khác trước.
Đúng lúc ấy, một bóng người áo xanh mềm mại thi triển khinh công mà tới, đáp xuống bên cạnh nữ tử áo tím, vừa thở vừa nói: “Tiểu Sơn chủ, cô chạy nhanh thật đấy…”
Trong lòng Hoa Nhược Đan sinh ra cảm giác kỳ lạ, nhưng vẫn gọi một tiếng: “…Tiên sinh?”
Nàng xuống ngựa, bước mấy bước tới trước Tế Liễu.
Đôi mắt Tế Liễu bình tĩnh lạnh lẽo, như đang nhìn một người xa lạ.
“Quen à?”
Nữ tử áo xanh thấy vậy liền nói với Hoa Nhược Đan: “Ôi, Tiểu Sơn chủ nhà chúng ta hỏng đầu rồi, chuyện trước kia chẳng nhớ được chuyện nào, hiện giờ trong đầu trống trơn.”
“Sao lại như vậy?”
Sắc mặt Hoa Nhược Đan thay đổi, nàng đưa tay nắm lấy tay Tế Liễu: “Khó trách, khó trách suốt một thời gian dài như vậy cô không tới cung thăm ta…”
Tế Liễu cụp mắt nhìn bàn tay Hoa Nhược Đan, lại liếc thấy con mèo mướp bên cạnh chạy tới cọ váy nàng, như lúc này mới xác nhận sự thân cận Hoa Nhược Đan dành cho mình.
“Rốt cuộc là trong Tri Giám Ty có người của các ngươi…”
Tế Liễu bỗng mở miệng, nhưng không phải nói với nữ tử trước mặt, mà là với đám đầu trọc mặc tăng bào phía sau nàng: “Hay trong cấm quân có người của các ngươi? Nếu không, nơi như Tế Ân tự, cho dù các ngươi nhẫn tâm làm hòa thượng mấy tháng để lót đường cũng tuyệt đối không thể trốn ra được.”
Không ai trong số họ đáp lời, chỉ dùng ánh mắt cảnh giác nhìn nàng.
Tế Liễu rút tay khỏi tay Hoa Nhược Đan, sờ về chuôi đao bên eo, Hoa Nhược Đan vội giữ lại: “Tiên sinh…”
Tế Liễu khựng lại, nâng mắt nhìn nữ tử trẻ tuổi mềm yếu đáng thương trước mặt, như đang phán đoán vì sao nàng lại có hành động này, Hoa Nhược Đan gần như bị ánh mắt dò xét ấy ép toát mồ hôi lạnh, nhưng từ đầu tới cuối vẫn nắm tay Tế Liễu, không buông.
“Tiên sinh, ta theo cô về, cô… có thể thả bọn họ đi không?” Hoa Nhược Đan mím môi, nàng không chắc trước mặt Tế Liễu đã mất ký ức này, mình còn có thể giữ thân phận bằng hữu ấy hay không.
“Vì sao?”
Tế Liễu nhìn nàng, giọng lạnh nhạt.
Hoa Nhược Đan nhìn nàng: “Cho dù cô không nhớ ta, ta vẫn tin cô, ta cầu xin cô, tiên sinh.”
Cảm xúc trong mắt Tế Liễu vẫn rất nhạt, một lát sau lại hỏi: “Cô muốn quay về sao?”
Hoa Nhược Đan sững người: “…Cái gì?”
“Rốt cuộc cô muốn theo ta trở về,” Tế Liễu nói rồi nâng mắt quét qua những cái đầu trọc sáng bóng bị nước mưa rửa sạch kia, “hay muốn theo họ đi?”
“Câu ta hỏi, tốt nhất cô nghĩ kỹ rồi hẵng trả lời.”
Tế Liễu nói.
“Ta không thể đi.”
Hoa Nhược Đan như đang nói với nàng, lại như nói với chính mình.
Sự lợi dụng lẫn nhau mà cả hai ngầm hiểu mới là sự thật giữa nàng và Khương Biến.
Thứ nàng muốn từ trước tới nay không phải Khương Biến, mà là vì Hoa gia ngồi lên vị trí cao nhất trong hậu cung, thứ Khương Biến muốn cũng không phải nàng, mà là nữ nhi Hoa gia có toàn bộ thế lực Hoa gia đứng sau.
Nhưng hắn vậy mà chẳng có chút tự giác nào của một nghịch tặc đang trốn chạy, ngay cả chỗ ẩn thân cũng chịu để người nói hết cho nàng biết.
Hắn… không sợ sao?
“Là không thể, chứ không phải không muốn.”
Tế Liễu chính xác bóc trần ý ngoài lời của nàng: “Vì sao phải trái lòng mình? Hoa tiểu thư.”
Mưa lạnh lướt qua má, Hoa Nhược Đan nhìn nàng: “Tiên sinh từ trước tới nay không trái lòng mình sao?”
Tế Liễu nhìn đám người phía sau nàng, sắc mặt bọn họ càng lúc càng căng thẳng, nàng cũng nghe thấy âm thanh trong gió càng lúc càng tới gần: “Rốt cuộc cô có muốn đi không?”
Hoa Nhược Đan không muốn nói lời trái lòng trước mặt nàng, bởi vậy khẽ thừa nhận: “Muốn.”
Tế Liễu rút tay ra, một tay túm lấy vạt áo nàng, vô cùng nhẹ nhàng đưa Hoa Nhược Đan lên lưng ngựa, Hoa Nhược Đan hoảng hốt nắm lấy bờm ngựa, nhìn nước mưa thấm ướt búi tóc đen của Tế Liễu, trên tóc nàng cài cây trâm bạc ngọc thỏ ôm trăng đính trân châu sáng sạch như tuyết.
Tế Liễu lại không nhìn nàng nữa, cúi người bế con mèo mướp dưới đất lên rồi xoay lưng.
Trong rừng trúc xanh um, mưa sương ẩm lạnh, Hoa Nhược Đan nhìn bóng lưng gầy mảnh của nàng, nghe giọng thanh lạnh trong trẻo truyền tới:
“Hãy làm nhiều chuyện khiến bản thân được như ý hơn, ai biết còn có kiếp sau hay không.”
Mi mắt Hoa Nhược Đan đột nhiên đọng lệ.
Đám đầu trọc đều ngẩn ra, nhìn nhau, chẳng hiểu chuyện gì xảy ra.
Nữ tử áo xanh hoàn hồn, vội đi theo, cuống quýt nói: “Sơn chủ, cô phát bệnh à? Đầu óc lại hỏng rồi sao? Đó là Hoàng hậu tương lai đấy! Sao cô có thể thả nàng chạy?”
“Bách Liên Thanh, không cần ngươi nhắc ta chuyện đầu óc ta không tốt, thổi còi tre, rút hết người của chúng ta về.”
Tế Liễu lạnh lùng liếc nàng một cái.
Bách Liên Thanh cảm thấy vị Tiểu Sơn chủ này tuổi còn nhỏ mà ánh mắt thật sự khiến người ta sợ, nàng muốn cười nhưng chẳng cười nổi: “Tiểu Sơn chủ, đó là Hoàng hậu đấy… cô nói cô căn bản chẳng nhớ nàng là ai, sao còn quản những chuyện này? Giờ cô định ăn nói với bệ hạ thế nào?”
Tế Liễu căn bản không thèm để ý nàng.
Trở lại trong thành, cấm quân và Tri Giám Ty, thậm chí Đông Xưởng vẫn bận tối mắt, lại có một nhóm người đuổi ra khỏi thành, Tế Liễu ôm mèo đi trên phố, bên tai là tiếng Bách Liên Thanh ríu rít không ngừng.
Mái lều dầu dưới cầu Phù Kim hà bị mưa nhỏ gõ thành những tiếng lộp bộp rất khẽ.
Trong hơi mưa xen lẫn mùi thơm của đồ ăn sáng.
“Tiểu Sơn chủ, hay là chúng ta ăn chút gì đi?” Bách Liên Thanh kéo nàng.
Tế Liễu nhìn theo hướng nàng chỉ, dưới lều dầu có một quán ăn sáng, bên trong ngồi rất nhiều người, Bách Liên Thanh không chờ nàng lên tiếng đã kéo nàng qua.
Hai người ngồi trước bàn, con mèo mướp không yên phận nhảy từ trong lòng Tế Liễu lên bàn, thực khách xung quanh đang bàn đủ thứ chuyện, nàng chẳng có hứng nghe, cũng mặc kệ Bách Liên Thanh gọi món gì.
Chẳng bao lâu sau, chủ quán bưng lên hai bát chè trôi nước ngọt, ông nhìn Tế Liễu một cái, như sững lại, Tế Liễu bắt gặp ánh mắt ấy: “Sao vậy?”
Chủ quán vội nói: “Không có gì, không có gì…”
Sắc mặt ông hơi kỳ quái rồi quay đi.
Tế Liễu cầm thìa, nhìn bóng lưng chủ quán, mãi tới khi ông đi tới cạnh bếp tiếp tục bận rộn, nàng mới lặng lẽ thu ánh mắt.
Ăn xong chè trôi nước, Tế Liễu giao mèo cho Bách Liên Thanh, một mình vào cung, Khương Hoàn đang nổi trận lôi đình trong Vạn Cực điện, Lưu Cát mồ hôi đầy đầu, vừa thấy bóng áo tím liền vội nói: “Bệ hạ, Tế Liễu tới rồi!”
Tế Liễu vào điện, lập tức cúi người chắp tay: “Bệ hạ.”
Khương Hoàn một tay nắm tay vịn, nghiêng người nhìn nàng: “Thế nào? Đuổi kịp người chưa?”
“Chưa.”
Tế Liễu nhàn nhạt đáp.
Sắc mặt Khương Hoàn trầm xuống, hắn đứng bật dậy: “Ngươi nói gì? Tế Liễu, Tử Lân Sơn của ngươi đến chút bản lĩnh này cũng không có sao?”
Tế Liễu im lặng.
Khương Hoàn thấy vậy, lửa giận trong lòng càng lớn, sải bước tới gần nàng: “Rốt cuộc là không đuổi kịp, hay căn bản ngươi coi lời trẫm như gió thoảng bên tai?”
“Bệ hạ sao lại nói vậy?”
Tế Liễu vẫn cụp mắt: “Tế Liễu không dám.”
“Thật sao?”
Đôi mắt lạnh lẽo của Khương Hoàn lướt qua gương mặt Tế Liễu, vẻ đẹp thần bí diễm lệ ấy khiến mày mắt nàng càng nhìn càng khiến người ta kinh tâm, đó là vẻ đẹp thoát tục, khiến người ta không dám khinh nhờn.
Nhưng Khương Hoàn nheo mắt, vẫn cố tình giơ tay ra.
Tế Liễu lập tức lùi một bước, không biểu cảm ngẩng mắt.
Ánh nắng sáng ngoài điện trải trên vai nàng, Khương Hoàn nhìn thấy bên cổ trắng nõn có một vết sẹo dữ tợn kéo dài xuống dưới vạt áo, đúng khoảnh khắc ấy, như có thứ gì đội da thịt phồng lên dưới vết sẹo, men theo đường cổ nàng quỷ dị di chuyển.
Khương Hoàn mở lớn mắt.
Tế Liễu như cảm nhận được, giơ một ngón tay ấn lên thứ dưới da cổ, nó dường như vì bị nàng chạm mà càng giãy mạnh, lúc này bên môi Tế Liễu xuất hiện một nụ cười nhạt: “Bệ hạ bị dọa rồi, quên nói với người, thứ này tương tự thứ từng có trên người Tiên đế, vừa là thuốc, vừa là độc, người bình thường chạm vào ắt chết.”
Khương Hoàn đương nhiên biết trên người Tiên đế từng có thứ gì, trước khi chết Tào Phượng Thanh đã nói với hắn, Tiên đế dựa vào thứ ấy mới sống thêm được mấy ngày, nhưng cũng chính thứ ấy khiến tới lúc lâm chung toàn thân huyết nhục Tiên đế gần như cạn sạch, chỉ còn lớp da mỏng.
Mà nữ nhân này cũng toàn thân là độc.
Sắc mặt Khương Hoàn thay đổi mấy lượt, miễn cưỡng siết bàn tay lại.
“Hoa tiểu thư bị kẻ gian bắt đi, đến nay sống chết chưa rõ, Tế Liễu sẽ lập tức trở về Tử Lân Sơn thả Phàm tử, tiếp tục tìm kiếm.”
Tế Liễu cúi người chắp tay, sau đó dứt khoát xoay người bước ra khỏi Vạn Cực điện.
Tháng sáu năm Kiến Hoằng thứ mười ba, chuẩn Hoàng hậu Hoa Nhược Đan thần bí mất tích tại Tế Ân tự, trong lúc tân đế Khương Hoàn lệnh Đông Xưởng và Tri Giám Ty điều tra kỹ, trong kinh thành lời đồn nổi lên khắp nơi, nói rằng mẫu tộc Lưu Thái hậu nhờ tân đế đăng cơ mà thế lực ngày càng lớn, Lưu gia vốn có ý dâng nữ nhi trong tộc làm Hoàng hậu để củng cố căn cơ, Hoa Nhược Đan là người được Tiên đế chỉ định làm Hoàng hậu, lúc này thần bí mất tích, không nghi ngờ gì chính là trúng ý Lưu gia.
Lưu gia nhất thời bị vây trong lời đồn sôi sục, Lưu Thái hậu cũng vì vậy mà ngã bệnh, Khánh Nguyên Hoa thị liên tiếp dâng sớ bày tỏ bất mãn, Khương Hoàn vì thế cũng đau đầu một thời gian, Hoa Nhược Đan vẫn bặt vô âm tín, từ tháng sáu tới cuối tháng mười, dần có lời đồn rằng nàng có lẽ đã gặp độc thủ.
Vụ chuẩn Hoàng hậu mất tích vẫn còn đầy nghi vấn, trong triều sóng gió không ngừng, đúng lúc này chiến sự Tây Bắc lại càng giằng co, để tạm thời ổn định lòng người, đè xuống những âm thanh hỗn tạp, đồng thời cho Khánh Nguyên Hoa thị một lời giải thích, cuối năm Khương Hoàn bàn bạc với Các thần, tránh mẫu tộc Lưu Thái hậu, chọn nữ nhi Hạ Đại học sĩ làm Hoàng hậu, sang năm chọn ngày đại hôn.
Năm sau, Đại Yên đổi niên hiệu thành Vĩnh Gia.
Mùng một tháng chín, thời tiết dần trở lạnh, dưới cầu Phù Kim hà màu xanh đậm vẫn chưa phai, thuyền mui đen từ dưới cầu rẽ nước đi qua, sóng trong lấp lánh dưới ánh nắng.
Hôm nay dưới mái lều dầu gần như chật kín người, có người vừa ăn vừa nói chuyện, cũng có người chỉ đứng bên cạnh nghe náo nhiệt, bởi gần đây trong triều xảy ra một chuyện kinh người, hiện giờ đã truyền khắp phố lớn ngõ nhỏ Yên Kinh.
“Tên Vi Thiêm Dụ ấy đúng là chẳng phải người! Bao nhiêu bách tính vô tội ở La Châu bị một tên đồ tể lòng dạ đen tối như hắn khai gian thành phản tặc! Nghe nói đầu của những phản tặc giả ấy chất lên cũng thành núi rồi!”
Có người nói: “Vi Thiêm Dụ là Khâm sai bình loạn La Châu do Hoàng thượng đích thân chỉ định, nghe nói La Châu nằm sát Mật Quang Châu, cũng là vùng đất nghèo cằn, người ở đó bị khốn khổ ép thành hung hãn vô cùng, bất kể phản dân phất cờ nổi dậy hay sơn phỉ đều rất khó đối phó, Vi đại nhân vừa tới nơi, ngay cả địa hình còn chưa hiểu rõ đã bị đám sơn phỉ xảo quyệt chơi cho một vố!”
Một người khác lập tức nói tiếp: “Đúng vậy! Cuối năm ngoái còn nói Vi đại nhân thắng một trận lớn, thắng cái gì chứ! Rõ ràng là lấy đầu bách tính vô tội lừa quân công!”
“Chứ còn gì nữa! Nếu không phải lần này người Đạt Tháp vòng ra phía sau đánh lén, e rằng triều đình vẫn còn bị Vi Thiêm Dụ che mắt!”
Lúc ấy, một người phu gánh hàng cầm bát trà loãng, gãi đầu, hắn trước giờ chẳng có thói quen chen vào nghe chuyện phiếm, vì chủ quán cho một bát trà nên mới dừng lại nghỉ, nhưng nghe hồi lâu vẫn chẳng hiểu bọn họ nói gì, không nhịn được hỏi: “Người Đạt Tháp đánh lén? Chuyện lúc nào thế?”
Một thực khách đang bóc lạc ngẩng đầu giải thích: “Đại Yên chúng ta chẳng phải từ năm ngoái đã đánh nhau với người Đạt Tháp ngoài biên cảnh sao? Ai ngờ tháng sáu năm nay, đám man tử ấy lại vượt qua hiểm địa Đan Nham, lén lút tiến vào Mật Quang Châu! Nơi núi cùng nước độc như Mật Quang Châu, bao nhiêu năm rồi chẳng có quan lão gia nào chịu tới nhậm chức, nên người ở đó đều tự quản lấy nhau, bang phái san sát, rời rạc như cát, người Đạt Tháp vốn tính chuẩn Mật Quang Châu là một đĩa cát rời, thuận tiện làm nơi trung chuyển, muốn từ đó đi thẳng tới Thiên Đàm đốt quân lương của chúng ta.”
Người phu gánh hàng từ trước chỉ biết cúi đầu làm việc kiếm miếng ăn, nghe đến đây cũng không khỏi căng thẳng, vội hỏi: “Sau đó thì sao? Sau đó thế nào!”
Thực khách kia cũng chẳng úp mở, bởi ngoài người phu này ra, những người có mặt gần như chẳng ai không biết: “Ai cũng biết Mật Quang Châu là nơi chim chẳng thèm ị, đến quỷ cũng chẳng muốn tới, nhưng từ trước tới nay nó cũng là một trong những vùng lưu đày của Đại Yên, cựu Thủ phụ Lục Chứng ngươi biết chứ? Ông ấy là quan tốt của Đại Yên chúng ta! Nhưng tôn nhi ông ấy vì là bằng hữu của nghịch tặc Khương Biến mà bị Hoàng thượng giận lây, tháng ba năm ngoái bị lưu đày tới Mật Quang Châu, nghe nói người bị lưu đày tới Mật Quang Châu hoặc chết đói, hoặc bị những kẻ đói đến phát điên ở địa phương ăn mất…”
Người phu giật mình: “Người Mật Quang Châu… còn ăn thịt người sao?”
Lúc này, một lão giả để râu dài xanh đen, có chút khí chất thư sinh cười một tiếng, lắc đầu: “Ăn thịt người tính là gì? Thiên tai nối tiếp binh họa, bốn biển này đâu chỉ có một Mật Quang Châu?”
Người phu chưa từng rời Yên Kinh, quanh năm chỉ dựa vào sức lực miễn cưỡng kiếm đủ ăn, nhưng đột nhiên phát hiện ra, hóa ra mình đã xem như may mắn rồi?
Hắn vội hỏi tiếp: “Rồi sao nữa?”
Thực khách kia tiếp tục: “Tiểu Lục công tử tới Mật Quang Châu chẳng những không bị đám điêu dân ấy ăn mất, còn giúp Tử Kim Minh thôn tính toàn bộ các phe phái khác ở địa phương, hiện giờ Tử Kim Minh một nhà độc đại, nắm cả Mật Quang Châu, nào còn là đĩa cát rời như người Đạt Tháp tưởng?
Bọn chúng vừa vào Mật Quang Châu đã bị Tiểu Lục công tử phát hiện, nhưng Mật Quang Châu căn bản chẳng có bao nhiêu binh lực, đều nhờ người Tử Kim Minh kịp thời ngăn người Đạt Tháp lại, Tiểu Lục công tử sai người tới La Châu gần đó mượn quân, nào ngờ Vi Thiêm Dụ vừa nghe người Đạt Tháp tới đã sợ tới mức vội lùi quân, Tiểu Lục công tử chỉ đành gửi thư tới Thiên Đàm, đồng thời dẫn Tử Kim Minh lợi dụng địa hình Mật Quang Châu chống lại mấy nghìn thiết kỵ Đạt Tháp suốt chín ngày.
Người Đạt Tháp vốn đã mệt mỏi vì vượt qua hiểm địa Đan Nham, lại không quen địa hình, rất nhanh còn thủy thổ bất phục, may mà Đàm đại tướng quân Đàm Ứng Côn rất nhanh phái binh mã về chi viện hậu phương, lúc ấy mới xử lý sạch đám người Đạt Tháp vượt qua hiểm địa.”
Thực khách nói tới khô miệng, uống một bát trà rồi mới tiếp tục: “Vi Thiêm Dụ còn lo Tiểu Lục công tử nói lung tung, liền định lấy cớ hắn đang mang tội lưu đày mà còn dám kết bè kéo cánh để bắt hắn, định tố cáo Tiểu Lục công tử trước với triều đình, nào ngờ Tiểu Lục công tử lại nhân lúc Vi Thiêm Dụ muốn bắt mình, phanh phui toàn bộ chuyện tốt hắn làm ở La Châu, phía Đàm đại tướng quân cũng dâng tấu về triều, nếu không nhờ vậy, chúng ta còn thật sự tưởng Vi đại nhân ở La Châu đang bình loạn đấy!”
Người phu nghe xong, gương mặt rám đen nhăn lại, căm phẫn nói: “Vi đại nhân kia đúng là xấu xa đến cực điểm! Mạng bách tính chúng ta trong mắt hắn là gì? Không tạo phản lại bị coi thành tạo phản rồi giết! Đây là thiên lý gì?”
“Ai nói không phải? Loại đồ tể ấy chỉ biết bắt nạt kẻ yếu! Gặp người Đạt Tháp lại sợ đến tè ra quần, đúng là làm mất mặt Đại Yên chúng ta!”
Một người ngồi trên ghế dài bưng bát trà thở dài: “Ngược lại vị Tiểu Lục công tử kia, đúng là không hổ là thân tôn của cựu Thủ phụ… ngay cả ở nơi như Mật Quang Châu cũng sống tử tế, còn nhìn thấu âm mưu của người Đạt Tháp!”
“Thế đạo này sao lại bất công như vậy? Kẻ như Vi Thiêm Dụ ngồi cao nơi minh đường, còn vị Tiểu Lục công tử kia lại bị lưu đày tới chốn núi cùng nước độc.”
Con mèo mướp kêu “meo” một tiếng, nhảy lên bàn, giẫm loạn đĩa xương vịt đã được lọc sạch, xếp ngay ngắn, cúi đầu ngửi mấy miếng thịt vịt, còn chưa kịp cắn thì Tế Liễu đã xách nó trở lại trong lòng.
“Quá mặn, không được ăn.”
Nàng dùng khớp ngón tay gõ đầu mèo, ra hiệu cho nó ngoan ngoãn.
Xung quanh tiếng người huyên náo, vẫn không ngừng bàn luận cùng một chuyện, Tế Liễu như không nghe thấy, một tay giữ mèo, tay kia lại cầm đũa lên.
Bỗng nhiên, một bàn tay thô ráp đặt một bó hoa rừng còn đọng giọt nước vào ống đũa trống không trước mặt nàng, Tế Liễu khựng lại, ánh mắt men theo bàn tay ấy nhìn lên, thấy gương mặt già hiền hòa đang cười của chủ quán.
Ông chẳng nói gì.
Rất nhanh, lại đặt một túi giấy dầu ở góc bàn nàng.
Ánh nắng sớm nhạt màu chiếu lên túi giấy dầu, trên đó là hàng chữ thương hiệu in bằng mực ——
Sơn tra bọc đường của Lý Ký.
Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)
Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.