Chương 19: Thẩm vấn công đường
Giờ còn rất sớm, trời chưa sáng. Phương Cao nghe thấy tiếng động sột soạt nên tỉnh giấc, mí mắt phải giật dữ dội. Trong lòng bất an, hắn bò dậy, vừa đẩy cửa đã bị một trận gió dữ ập thẳng vào mặt như tát cho một cái thật mạnh, toàn thân lập tức căng cứng, run lẩy bẩy bước vào trong gió.
Phương Cao từng là huyện úy của Đan Ngọc, phụ trách trị an và tư pháp trong thành. Trước kia hắn cùng Phùng Tông làm việc dưới tay Hứa Phụng, sau khi Hứa Phụng bị hại chết trong phủ, người đầu tiên mất mũ quan chính là hắn.
Mấy ngày nay hắn đều co ro trong nhà, nơi nào cũng không dám đi, chỉ sợ lại có phiền phức tìm tới cửa.
Nhưng rốt cuộc vẫn tới. Sáng sớm, cửa nhà hắn đã bị gõ ầm ầm. Nha dịch xông vào chẳng nói chẳng rằng, kẹp hai bên áp giải hắn tới huyện nha.
Nửa đường, Phương Cao dựa vào chút giao tình tích góp được từ thời còn làm huyện úy, nói đến khô cả miệng mới cầu được hai nha dịch áp giải tiết lộ đôi chút:
“Là chuyện danh sách trưng binh. Những chuyện khác bọn ta cũng không rõ, ngươi tự nghĩ xem có liên quan tới mình hay không đi.”
Phương Cao nghe xong, sắc mặt lập tức trắng bệch, trong lòng đã hiểu rõ.
Đêm qua huyện nha bốc cháy, Phùng Tông bận rộn suốt một đêm, mãi tới lúc trời gần sáng mới miễn cưỡng tìm ra nguyên nhân — chẳng biết hạ nhân nào lúc đổ than lửa đã sơ ý để sót vài đốm lửa, bị gió cuốn bay lên mái kho. Nhà kho này được xây bằng gỗ từ nhiều năm trước, chẳng mấy chốc đã bén lửa, mới gây ra trận hỏa hoạn lớn như vậy.
Đã là vô ý, lại không có tổn thất gì nghiêm trọng, Phùng Tông vốn tưởng cùng lắm chỉ bị phạt nhẹ, sẽ chẳng gây ra sóng gió gì. Không ngờ Tề Huyên lập tức thăng đường, triệu tập toàn bộ nha dịch, nói muốn thẩm vấn tội nhân.
Trong công đường, Tề Huyên mặc quan phục, ngồi cao sau án, phía trên đầu treo bốn chữ “Công chính liêm minh”. Mày mắt hắn nghiêm nghị, trên mặt không còn chút ôn hòa thân thiện như trước kia, không cần nổi giận cũng tự có uy nghiêm.
Thôi Tuệ cầm giấy bút đứng bên cạnh. Hắn đã thay một thân y phục sạch sẽ, búi tóc cũng chỉnh tề. Hai ngày bôn ba cùng một phen thoát chết không hề khiến hắn kiệt sức, trái lại lúc này còn tinh thần sáng láng, quét sạch vẻ sa sút trước đó, lộ ra khí độ của một Ngự sử lấy ngòi bút làm cốt.
Hôm nay vị tú tài sách không rời tay và Lý thị vệ mặt mày lạnh lẽo đều không có mặt, chỉ một mình Triệu Khác ngồi ở hàng ghế dưới.
Tuy y phục chỉnh tề, nhưng hắn không khoác áo da điêu, chuỗi hạt cũng chẳng cầm trong tay, sắc mặt âm u đầy lệ khí. Đôi mắt giống hệt lang sói khi thì liếc về phía Tề Huyên, khi thì quan sát Thôi Tuệ, khóe môi còn treo một nụ cười lạnh.
Nha dịch đứng thành hai hàng, cụp mắt đứng thẳng, không ai dám thở mạnh, chỉ sợ mình bị liên lụy.
Lữ Hồng cũng đã vội vàng chạy tới. Vừa vào công đường, hắn chẳng nói hai lời đã nằm rạp xuống đất, trong bụng chuẩn bị sẵn cả đống lời cầu xin tha mạng, tiếng gào khóc xé lòng còn chưa kịp bật ra đã bị Tề Huyên phất tay cắt ngang:
“Chuyện hôm nay muốn thẩm vấn không liên quan tới ngươi, lui xuống.”
Mấy hôm trước Lữ Hồng nửa đêm thức dậy bị cái đầu người chết dọa cho nằm liệt trên giường suốt hai ngày, hôm nay vừa có chút hồi phục, không ngờ vừa mở mắt đã nghe tin huyện nha cháy. Hắn sợ đến hồn bay phách lạc, nước mắt chảy suốt dọc đường tới đây xin tội, còn tưởng lần này chắc chắn phải chết, nào ngờ Lĩnh Vương căn bản không trách hắn.
Tâm trạng lên xuống quá mạnh, trước mắt Lữ Hồng tối sầm, lập tức ngất xỉu tại chỗ, nằm thẳng cẳng như một con lợn trắng chết, phải bốn năm nha dịch hợp sức mới khiêng được ra ngoài.
Phùng Tông thấy vậy, trong lòng lập tức biết có chuyện không hay. Huyện nha chỉ có mấy tiểu quan như vậy, nếu không trách Lữ Hồng, e rằng người bị trách chính là ông.
Đang nghĩ, đã nghe Tề Huyên đập kinh đường mộc:
“Huyện thừa Phùng Tông, ngươi có biết tội không!”
Hai đầu gối Phùng Tông lập tức mềm nhũn, quỳ rạp xuống đất, lớn tiếng kêu:
“Vương gia! Huyện nha xảy ra hỏa hoạn là do hạ quan thất trách, nhưng trời hanh vật khô, trận cháy này thật sự không ai ngờ tới, rất khó đề phòng, mong Vương gia thứ tội!”
“Bản quan hỏi không phải chuyện hỏa hoạn.”
Tề Huyên nói: “Ta hỏi ngươi, Thành Khâu hương có thuộc huyện Đan Ngọc hay không?”
Thân hình Phùng Tông chợt cứng lại. Trong khoảnh khắc, vô số suy nghĩ lướt qua đầu, nhưng ông không dám chần chừ quá rõ ràng, chỉ đành cắn răng đáp: “Có.”
“Vậy chuyện trưng binh trong hương cũng phải do huyện nha Đan Ngọc phụ trách, đúng hay không?”
Phùng Tông đáp: “Đúng.”
“Ngày hôm trước, Thôi đại nhân đích thân tới Thành Khâu hương, tra được năm Khang Bình thứ hai, nơi này từng tuyển năm mươi tráng đinh nhập ngũ. Những người ấy họ tên là gì, nhà ở đâu, có bao nhiêu người thân, tất cả đều được ghi trên những tờ giấy này.”
Giọng Tề Huyên lạnh như băng, hắn lấy một xấp giấy từ trong tay áo ra, ném xuống bàn:
“Vì sao trong danh sách trưng binh của huyện nha lại không hề có tên những người này? Bọn họ rời quê đã năm năm, đến nay chưa về. Ngoài Trâu Nghiệp ra, bốn mươi chín người còn lại chẳng lẽ đều biến mất khỏi thế gian?”
Lời của Tề Huyên rơi vào tai Phùng Tông chẳng khác nào sấm sét bổ thẳng xuống đầu. Ông lập tức dựng tóc gáy, trước mắt hoa lên. Trong thoáng chốc, ông chỉ cảm thấy bốn phương tám hướng trong công đường đều có gió lạnh thổi tới, không ngừng giày vò cơ thể, toàn thân như bị phủ một lớp sương băng.
Ông trợn tròn mắt, không biết phải che giấu thần sắc thế nào, chỉ đành theo bản năng dập đầu xuống đất, co người lại.
Thật ra Phùng Tông đã sớm có dự cảm, nhưng đến khi khoảnh khắc này thật sự tới, ông vẫn không thể bình tĩnh đối mặt.
Tề Huyên nhìn phản ứng ấy cũng lập tức hiểu rõ. Năm mươi người kia rốt cuộc đi đâu, người này e rằng trong lòng cũng biết rõ.
Hắn phất tay, nha dịch lập tức khiêng một chiếc hòm lên, đặt ngay trước mặt Phùng Tông.
Tề Huyên chỉ những hồ sơ trong hòm:
“Toàn bộ danh sách trưng binh của huyện Đan Ngọc năm Khang Bình thứ hai đều ở đây. Bây giờ ngươi lật từng cuốn cho ta. Nếu tìm được tên năm mươi người ấy, ta sẽ không truy cứu tội của ngươi.”
Phùng Tông không dám ngẩng đầu, vẫn giữ nguyên tư thế co rúm, trong lòng rối như tơ vò, còn chưa nghĩ ra nên ứng phó thế nào.
“Rốt cuộc những người ấy đi đâu?”
Tề Huyên đập mạnh xuống bàn, tiếng vang lớn khiến lòng người run lên: “Nói!”
Phùng Tông cắn răng: “Hạ quan không biết!”
Đúng lúc đó, nha dịch ngoài cửa bước vào truyền báo: “Vương gia, Phương Cao đã được áp tới.”
Tề Huyên nói: “Đưa vào!”
Phương Cao sinh ra cao lớn khỏe mạnh, là kiểu nam nhân cường tráng hiếm thấy ở huyện Đan Ngọc. Khi bị áp giải vào, toàn thân hắn vẫn không ngừng run rẩy, sắc mặt sợ đến xanh tím. Vừa nhìn thấy trận thế trong công đường, hắn càng không đứng nổi, hai chân mềm nhũn như bông, gần như bò quỳ xuống đất, run giọng hỏi:
“Vương gia, không biết gọi thảo dân tới đây là vì chuyện gì?”
Tề Huyên lạnh lùng nhìn hắn, cười nhạt:
“Nếu thật sự không biết là chuyện gì, sao lại có tật giật mình, sợ đến mức này? Nói đi, năm mươi người ở Thành Khâu hương năm xưa nhập ngũ, ngoài Trâu Nghiệp ra, những người còn lại rốt cuộc đi đâu? Vì sao danh sách trưng binh của huyện nha lại không có lấy một dòng ghi chép?”
“Thành Khâu hương… Thành Khâu hương…”
Phương Cao run như cầy sấy, ấp a ấp úng.
Đúng lúc này, Triệu Khác vẫn luôn im lặng chợt lên tiếng:
“Phương Cao phải không? Ngươi có biết Vương gia còn kiêm Hình bộ Thượng thư, hôm nay đích thân thẩm vấn ngươi, tốt nhất nên nói thật. Nếu nói sai thì cẩn thận—”
“Triệu đại nhân!”
Thôi Tuệ cắt ngang lời hắn, ngòi bút hạ xuống giấy:
“Trong công đường này không chỉ có Hình bộ Thượng thư, còn có Ngự sử của Đô Sát viện. Bản quan sẽ ghi lại từng câu từng chữ của lần thẩm vấn hôm nay, sau đó trình lên Hoàng thượng. Người nên cẩn thận lời nói là ngươi.”
Đôi mắt Triệu Khác chứa đầy hung ác, lạnh lùng nhìn hắn. Thôi Tuệ không hề né tránh, trực tiếp đối diện ánh mắt.
Công đường im phăng phắc, đến kim rơi cũng nghe được, không khí căng thẳng như dây cung đã kéo căng hết mức.
Ánh mắt Tề Huyên lướt qua Phương Cao và Phùng Tông đang quỳ dưới đất, nói:
“Ta thẩm vấn các ngươi ở đây là cho các ngươi một cơ hội nói ra sự thật. Cho dù các ngươi không nói gì, ta vẫn có thể điều tra rõ ràng. Đến lúc tội danh được xác nhận, không chỉ đầu của các ngươi khó giữ, người nhà cũng chẳng tránh khỏi liên lụy.”
Phương Cao chỉ cảm thấy hai hàm răng dính chặt lấy nhau, thế nào cũng không thể mở miệng. Bao nhiêu lời nghẹn trong cổ họng, chẳng thốt ra nổi.
Trong lúc giằng co im lặng ấy, Phùng Tông bỗng thẳng người quỳ lên, tháo mũ quan đặt nhẹ xuống đất. Khi ngẩng mặt lần nữa, trong mắt lóe lên một tia kiên quyết, sau đó thần sắc dần trở nên bình tĩnh.
Ông chậm rãi nói:
“Theo phân chia địa vực của châu phủ, Thành Khâu hương quả thật thuộc quyền quản lý của Đan Ngọc, không sai. Nhưng nơi này nằm ở rìa Đan Ngọc, sát huyện Xương Dương. Trước kia khi địa giới chưa phân rõ, vẫn luôn do Xương Dương quản lý.”
“Năm năm trước có một lần toàn huyện trưng binh. Khi Phương Cao dẫn người tới Thành Khâu hương, lại được biết trong hương đã có năm mươi nam tử nhập ngũ, tất cả đều bị huyện úy Xương Dương là Lý Củng dẫn đi.”
Phương Cao sợ đến đỏ cả mắt, vội ngẩng đầu lên, ánh mắt đầy cầu xin:
“Phùng Tông! Đừng nói nữa…”
Phùng Tông coi như không nghe thấy, tiếp tục:
“Sau khi Hứa đại nhân biết chuyện, đích thân tới huyện Xương Dương đòi người. Nhưng Lý Củng là cháu bên họ của Tri phủ Linh Châu, có thể tưởng tượng chuyến đi ấy của Hứa đại nhân đương nhiên không có kết quả. Không những vậy, vì kết oán với Lý Củng, trên đường trở về Hứa đại nhân còn bị người ám hại, gãy một chân, phải dưỡng thương nửa năm mới miễn cưỡng xuống giường được.”
Tề Huyên nghe mà khí huyết cuộn trào, cố ép cơn giận xuống, lạnh giọng hỏi:
“Nói vậy, bốn mươi chín người biến mất kia vẫn còn trong tay Lý Củng? Hắn giữ những người ấy để làm gì?”
Phùng Tông không trả lời ngay.
Ông nhớ lại trước khi bước vào công đường, dưới mái hiên ngoài cửa đã nhìn thấy Chu Hạnh.
Nàng vẫn quấn chiếc áo bông dày, dựa vào cột cửa như người không xương, hai tay nhét trong tay áo, cổ rụt lại. Gương mặt trắng nhợt dưới ánh đèn vàng trông chẳng khác nào bạch ngọc.
Sau khi chạm mắt với Phùng Tông, nàng từ xa cong môi cười. Bàn tay giấu trong tay áo đưa ra, nhón một vật nhỏ, nhẹ nhàng lắc trước mặt ông.
Phùng Tông đi quá vội, không có cơ hội dừng lại nói chuyện với nàng. Nhưng chỉ trong một cái liếc mắt, ông đã nhìn thấy thứ Chu Hạnh cầm trong tay là một mẩu vàng đen sẫm, ánh lên tia sáng.
Mấy ngày trước, vì cái chết của Hứa Phụng mà lo đến sứt đầu mẻ trán, Phùng Tông từng tìm Chu Hạnh nhờ giúp phá án. Khi ấy nàng đang ngồi trong một quán lều ven đường ăn mì, chậm rãi uống sạch cả nước dùng rồi mới đặt bát xuống, nói với ông:
“Phùng đại nhân, ta có thể cứu ngài. Không chỉ không lấy một đồng, ta còn có thể bảo cả nhà ngài không bị liên lụy, bình an ăn Tết. Nhưng khi vụ án tra tới chỗ quan trọng, ngài không được che giấu, phải nói thật tất cả.”
Khi ấy Phùng Tông chẳng hiểu lời Chu Hạnh có ý gì, chỉ hỏi:
“Ta phải nói thật chuyện gì?”
Chu Hạnh không đáp, như cố ý thừa nước đục thả câu, chỉ thần bí cười:
“Đến lúc đó ngài sẽ biết.”
Bây giờ Phùng Tông đã biết.
Ông nói:
“Mùa xuân năm Khang Bình thứ ba, Lý Củng muốn xây hí đài ở ngoại thành Đan Ngọc. Công trình kéo dài đứt quãng suốt hai năm, cuối cùng hí đài không xây xong, chẳng biết vì nguyên nhân gì mà sụp đổ.”
Tề Huyên đột nhiên đứng bật dậy, một chưởng đập xuống bàn, nghiêm giọng quát:
“Rốt cuộc là xây hí đài, hay giả danh xây hí đài để âm thầm làm chuyện khác!”
Phùng Tông dập đầu, lớn tiếng đáp:
“Bẩm Vương gia, là đào mỏ vàng!”
Tiếng nói vang dội, nặng như ném xuống đất, quanh quẩn trong công đường mãi chưa tan.
Thôi Tuệ hạ bút ghi chép.
Triệu Khác lạnh lùng dựa vào lưng ghế.
Phương Cao sợ đến không quỳ nổi, cả người mềm nhũn như chết trên đất.
Trong khoảnh khắc, sắc mặt mọi người trong công đường đều khác nhau, tiếng kinh hô liên tiếp vang lên.
Dù là người hoàn toàn không biết chân tướng, chỉ cần nghe hai chữ “mỏ vàng” cũng lập tức hiểu được mức độ nghiêm trọng.
Triều đình đã thu gom vàng trong dân gian từ lâu, hết đợt này tới đợt khác lục soát, đến nay ngoài phố phường thậm chí khó thấy được một mẩu vụn vàng, huống hồ là một mỏ vàng chứa vô số vàng bên trong.
Chỉ nghe Phùng Tông nói: “Đan Ngọc quả thật có mỏ vàng.”
Năm Khang Bình thứ hai, huyện Đan Ngọc xảy ra một trận động đất nhẹ. Một số căn nhà không vững bị rung sập. Hứa Phụng đích thân đi khắp mười dặm tám thôn, thống kê nhà cửa bị phá hủy và những bá tánh bị thương nặng, lại vô tình phát hiện ở vùng đất hoang cách ngoại thành hơn mười dặm có một mỏ vàng bị trận động đất làm lộ ra.
Sau đó ông lập tức báo lên châu phủ, chẳng bao lâu đã có quan viên tới thăm dò. Sau khi xác nhận thật sự có mỏ vàng, theo lý phải do quan viên địa phương phụng mệnh khai thác, nhưng đợi hết ngày này qua ngày khác, công văn khai thác vẫn chẳng thấy đâu. Hứa Phụng lập tấu hỏi lại, tin tức cũng như đá chìm đáy biển, không một lời hồi đáp.
Không lâu sau, tin Lý Củng muốn xây hí đài truyền tới, mà vị trí xây dựng vừa hay nằm ngay trên mỏ vàng.
Khi ấy Hứa Phụng đã gãy một chân, vốn không tiện đi lại, nhưng vẫn kiên trì tới tận nơi có mỏ vàng, cãi nhau với Lý Củng đến đỏ mặt tía tai, cuối cùng còn động thủ, tại chỗ gãy luôn tay phải.
Phùng Tông nghe tin, trong đêm vội cưỡi ngựa tới gặp Hứa Phụng.
Người ngoài đều nói cánh tay Hứa Phụng bị ngã gãy, nhưng Phùng Tông cầm đèn soi kỹ mới thấy chỗ bị thương đầy những vết gậy tím bầm, rõ ràng là bị người dùng gậy đánh gãy!
Phùng Tông chỉ đành nhẫn nhịn, liên tục xin lỗi Lý Củng, hao hết sức lực mới đưa được Hứa Phụng trở về.
Sau đó ông thay Hứa Phụng chấp bút viết tấu, nhiều lần trực tiếp dâng đơn lên triều đình, tố cáo Lý Củng và trình bày chuyện mỏ vàng. Nhưng chẳng ai biết những tấu chương ấy rốt cuộc đã đi đâu, tóm lại không một người nào để ý.
Phùng Tông tóm lược chuyện cũ, giọng điệu bình tĩnh khác thường:
“Vương gia, Lý Củng chỉ là một huyện úy, lấy đâu ra gan lớn đến mức dám nuốt riêng mỏ vàng? Hắn lại dựa vào đâu mà có bản lĩnh tự ý trưng binh để dùng riêng, ngang nhiên làm bị thương quan viên, chặn hết mấy phong tấu chương báo lên, giấu trời qua biển, một tay che trời?”
Tề Huyên nghiêng người về phía trước, hai tay chống lên án, ánh mắt khóa chặt Phùng Tông:
“Kẻ đứng sau tất cả rốt cuộc là ai?”
“Tri phủ Linh Châu.”
Phùng Tông nói:
“Lý Tu Đức.”
Đã từng có lúc Phùng Tông cảm thấy câu này nặng tựa ngàn cân, thậm chí từng nghĩ chắc phải để nó mục nát suốt đời trong bụng, mang vào quan tài chôn cùng.
Không ngờ tới ngày thật sự nói ra, lại nhẹ nhõm đến vậy.
Muốn nói Tri phủ Linh Châu là người thế nào, vậy không thể không nhắc tới người đứng đầu bách quan đương triều — Thủ phụ Triệu Chấp.
Năm xưa khi mới vào kinh, Triệu Chấp vừa gặp Lý Tu Đức đã lập tức hợp ý. Hai người quen nhau từ lúc còn nghèo khó, sau này bước vào quan trường cũng có quan hệ mật thiết.
Tuy trong triều nghiêm cấm kết bè kết phái vì lợi riêng, nhưng ai mà chẳng nhìn ra Lý Tu Đức chính là cánh tay đắc lực được Triệu Chấp coi trọng.
Đại Tề ngày nay có một vị Triệu Thủ phụ xây thủy lợi, cứu tế nạn dân, thu phục lãnh thổ, mấy chục năm công lao không ngừng, từng bước leo cao, thì không thể thiếu vị thuộc hạ đắc lực Lý Tu Đức này.
Bởi vậy, một huyện thừa nhỏ bé dám tố cáo Tri phủ chẳng khác nào bọ ngựa giơ càng chặn xe, tự tìm đường chết.
Năm xưa Hứa Phụng bị đánh gãy tay chân trong lúc tranh chấp, mấy ngày trước lại bị dao cứa cổ, mất máu mà chết. Từng cảnh thê thảm ấy vẫn còn rõ mồn một trước mắt.
Mấy ngày nay Phùng Tông không ngừng bôn ba, vắt óc nghĩ cách làm sao tách mình ra khỏi chuyện này, làm sao bảo toàn già trẻ trong nhà, đến mức đã quên rằng trong mấy nghìn ngày đêm trước kia, mỗi lần trằn trọc không ngủ được, điều ông suy nghĩ lại là làm thế nào để những thỏi vàng bị vùi sâu trong bùn lầy này được phơi bày ra ánh sáng.
“Những lời hạ quan vừa nói câu nào cũng là sự thật. Nếu có nửa lời giả dối, nguyện lấy đầu mình chịu tội. Mong Vương gia minh xét.”
Phùng Tông nâng tay hành lễ, lúc này mới nhìn thấy hai bàn tay mình run dữ dội, mới nhận ra bản thân vẫn sợ hãi.
Chỉ là sự can đảm bộc phát ban nãy quá mạnh mẽ, lấn át hết nỗi sợ ấy, khiến ông nhất thời không nhận ra.
Tề Huyên không ngờ ân sư đã từng chịu đựng nhiều khổ nạn như vậy, trong phút chốc hai mắt đỏ hoe, ánh lệ dâng lên.
Hắn hít sâu một hơi, chậm rãi điều chỉnh nhịp thở, cố nén tiếng nghẹn hỏi:
“Ngươi còn lời gì muốn nói không?”
“Có.”
Phùng Tông nhìn thẳng vào mắt Tề Huyên.
Vị Vương gia này còn rất trẻ. Từ nơi cao nhất rơi xuống, uổng phí mười năm, hiện giờ cũng mới hơn ba mươi tuổi.
Phùng Tông đã từng nghe Hứa Phụng nhắc đến vị cựu Thái tử này hàng trăm hàng nghìn lần, nói hắn tâm tính kiên định, trọng tình trọng nghĩa, phẩm hạnh đều tốt.
Hôm nay tận mắt nhìn thấy tất cả, mới biết lời Hứa Phụng chẳng hề giả dối.
Vậy thì cũng nên có qua có lại.
Phùng Tông nói: “Hứa đại nhân là một vị quan tốt.”
Lời vừa dứt, cả công đường yên tĩnh.
Một giọt nước mắt gần như không nhìn thấy từ khóe mắt Tề Huyên lăn xuống.
Hắn cười, trông rất vui: “Ta biết. Ân sư của ta trước nay vẫn luôn như vậy.”
Một tia sáng xuyên qua cửa sổ, rơi vào mắt Phùng Tông.
Ông ngẩng đầu, nhìn thật xa.
Chỉ thấy màn đêm dài đã lui hết, ánh sáng đầu ngày vừa ló. Đường chân trời phía đông được viền một sợi vàng mảnh. Tiếng gà gáy xuyên qua cửa, sương trắng gặp gió sớm hóa thành nước, thấp thoáng có tiếng người nói chuyện vang lên.
Trời sáng rồi.
“Vàng, đúng là thứ tốt.”
Chu Hạnh ngồi trước bàn, ngắm nghía mẩu vàng nhỏ nơi đầu ngón tay.
Quặng vàng chưa qua mài giũa, bên ngoài chẳng biết bám một lớp gì đen sì, nhưng vẫn không thể che được ánh sáng vốn có. Chỉ cần có chút ánh sáng chiếu vào, từng điểm nhỏ li ti lập tức lấp lánh, đẹp đến mức khiến lòng người rung động.
Nàng hơi nheo mắt, đôi mắt nâu dưới ánh mặt trời sáng trong:
“Không biết bao nhiêu mạng người đã mất vì thứ này.”
“Lão đại.”
Tiền Bất Đoạn đứng bên cạnh, hạ giọng:
“Không ngờ Lĩnh Vương lại quyết định nhanh như vậy. Trước đó ta, Tiêu ca và Ngỗi lão còn cá với nhau, đều cảm thấy phải đẩy hắn thêm một bước nữa mới có kết quả.”
“Ừm…”
Chu Hạnh rõ ràng chẳng hề bất ngờ.
Nếu hỏi vì sao Tề Huyên lại nhanh chóng đưa ra quyết định như vậy, nguyên nhân bên trong thật sự có quá nhiều. Nhưng nàng nghĩ một lát, cuối cùng chỉ đơn giản tổng kết:
“Có lẽ so với cuộc sống yên ổn bên vợ con, hắn càng không muốn ân sư của mình chết oan uổng.”
“Vậy hắn thẩm vấn ở công đường, phơi chuyện này ra ngoài, xem như đã vượt qua cửa ải đầu tiên rồi sao?”
“Tạm coi là đạt.”
Bất kể quá trình thế nào, ít nhất kết quả vẫn giống dự đoán, Chu Hạnh cũng không quá khắt khe.
Nàng chuyển đề tài: “Thương thế của Diệp Vanh thế nào?”
Đêm qua sau khi Diệp Vanh phóng hỏa ở huyện nha rồi trở về núi, vừa đi chưa bao lâu đã bị một nữ tử chặn lại. Người này ngày thường dùng thân phận tiểu thiếp ở bên Triệu Khác, thực tế lại cực kỳ tinh thông độc thuật.
Diệp Vanh giao đấu với nàng hồi lâu, chân trái trúng một cây kim, lập tức mất sức. May mà Tiêu Thiệp Xuyên kịp thời tới tiếp ứng, hắn mới có thể thoát thân.
Độc tính vô cùng hung mãnh, lan ra cũng rất nhanh. May mà đêm qua Ngỗi Cốc Vũ cứu chữa kịp thời, mới giữ được chân trái cho hắn.
Sáng nay Tiền Bất Đoạn vừa đi thăm, liền nói:
“Ngỗi lão nói loại độc ấy đến từ biên giới Tái Bắc, cực kỳ hiếm gặp lại hung hiểm. Tuy hiện giờ thương thế đã tạm ổn, nhưng muốn loại sạch độc tố vẫn cần một khoảng thời gian, thậm chí sau khi giải độc xong cũng có thể để lại di chứng.”
“Mấy ngày này để hắn nghỉ ngơi cho tử tế.”
Chu Hạnh tiện tay ném mẩu vàng đổi bằng không biết bao nhiêu mạng người lên bàn, cả người tựa vào ghế gỗ.
Bôn ba suốt một đêm không ngủ, vẻ mệt mỏi lặng lẽ tràn ra nơi mày mắt. Nàng ngáp một cái, giọng cũng trở nên lười nhác:
“Đào Anh ra khỏi thành chưa?”
“Đã tiễn đi rồi. Đây là thứ Đào cô nương nhờ ta giao cho người.”
Tiền Bất Đoạn đẩy chiếc bọc trên bàn.
Khi ấy Đào Anh ôm chặt thứ này trong ngực, giữ suốt dọc đường. Vì Chu Hạnh đã tới huyện nha, nàng không đợi được người, cuối cùng mới giao cho Tiền Bất Đoạn, nhờ hắn chuyển lại.
Dọc đường Tiền Bất Đoạn còn bóp thử, đoán bên trong chắc là quần áo hoặc thứ gì tương tự.
Chu Hạnh mở mắt nhìn một cái, không đứng dậy, cũng chẳng nói thêm, lại nhắm mắt như đã ngủ.
Tiền Bất Đoạn biết nàng đã thức trắng cả đêm, cũng không dám quấy rầy. Hắn cố nhịn cơn đau vì mới chịu phạt trượng, hết sức nhẹ chân nhẹ tay lùi khỏi phòng, tiện tay khép cửa lại.
Hắn nhăn nhó quay người, mới đi được vài bước đã chợt nhìn thấy một người đứng ngoài cổng viện.
Người nọ mặc trường y trắng như tuyết, tóc đen buông xuống tản trên vai, dải buộc tóc thêu hoa mai nhẹ bay theo gió. Vài sợi tóc rối trước trán khẽ lướt qua đôi mày mắt tuấn mỹ.
Hắn nhìn Tiền Bất Đoạn, ánh mắt bình tĩnh ôn hòa, không nói gì.
Bước chân Tiền Bất Đoạn lập tức khựng lại, lông tơ toàn thân dựng đứng. Hắn xoay người đâm thẳng vào cửa, xông trở vào trong phòng, hạ giọng đến gần như chỉ còn hơi thở mà kêu lên:
“Lão đại! Tên tú tài họ Lục kia tìm tới cửa rồi! Đang ngoài cửa! Ngoài cửa kìa!!”
Chu Hạnh bị động tĩnh của hắn dọa giật mình, chút buồn ngủ khó khăn lắm mới có cũng biến mất sạch.
Nghe nói Lục Chước Quang tới, nàng ngược lại không trách mắng, chỉ đứng dậy đẩy cửa sổ ra.
Ánh mắt xuyên qua sân viện, lập tức nhìn thấy Lục Chước Quang đứng ngoài cửa.
Lúc này trời đã sáng hẳn, lại là một ngày đông hiếm hoi có nắng đẹp. Ánh vàng phủ lên người hắn, khiến bạch y sáng đến chói mắt.
Đôi mắt hắn khẽ chuyển, giao với ánh nhìn của Chu Hạnh, rõ ràng đôi mắt từng bị độc ảnh hưởng đã hoàn toàn khôi phục bình thường.
Chu Hạnh tựa bên cửa sổ, tay buông xuống, đầu ngón tay khẽ chạm vào cán đao bên chân, trên mặt như cười như không:
“Chước Quang tới tận cửa, có việc gì vậy?”
Lục Chước Quang chắp tay hành lễ, dáng vẻ nho nhã lễ độ:
“Chu cô nương, Lục mỗ đột nhiên có việc quan trọng, mấy ngày tới e rằng không thể về nhà. Nhưng trước đó Lục mỗ đã hứa với hàng xóm sẽ dạy bọn trẻ đọc sách nhận chữ. Trong những ngày ta không ở đây, muốn nhờ Chu cô nương tạm thay vị trí tiên sinh, dạy bọn trẻ học chữ.”
Chu Hạnh: “…”
Hay lắm. Trước khi hàng xóm nhờ hắn dạy học, bọn họ đã từng nhìn thấy chữ hắn viết chưa vậy?
Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)
Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.