Chương 100: Sai cung lạc phách
Văn Hỉ đổi trở lại cái tên trước kia.
So với Ngô Cát An quyền thế ngút trời, hắn vẫn thích cái tên Văn Hỉ hơn. Những năm tháng ngoài mặt thuận theo, trong lòng làm trái, hai mặt lật lọng đã trôi qua, giờ tuy hắn vẫn là Chưởng ấn Tư Lễ giám, nhưng sau này lại muốn trở về làm Văn Hỉ năm xưa, thỉnh thoảng tham chút lợi nhỏ, vui mừng vì mình vẫn còn có thể sống yên ổn.
Chuyện trong cung đã bụi trần lắng xuống, cuối cùng hắn cũng có thời gian rảnh, tới An Lạc đường thu dọn di vật của Trần Thủ Thiện. Lão thái giám ấy lúc nào cũng đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chết, vì vậy hành lý ít đến đáng thương, có lẽ không muốn phiền người khác nên cũng đã sớm thu xếp ngay ngắn. Tiểu Yếp, thái giám vẫn luôn hầu hạ ông, vừa lau nước mắt vừa lần lượt xếp đồ vào hòm, bởi tất cả đều phải đem đi thiêu, nên gặp vài món đẹp đẽ tinh xảo, cậu không nỡ, cầm trong tay vuốt đi vuốt lại.
Văn Hỉ nhìn một cái, thấy đều là đồ chạm khắc, nghĩ rằng cũng do sư phụ hắn lúc sinh thời tặng cho — ông có một tay nghề rất giỏi, ngày thường thích nhất là tạc vài món đồ nhỏ rồi tiện tay đem tặng người.
Hắn nói: “Ngươi thích thì giữ lại đi, cũng coi như để làm kỷ niệm.”
Tiểu Yếp cảm tạ một tiếng, nâng niu nhét đồ vào trong ngực, tay chân nhanh nhẹn thu dọn những thứ còn lại. Lúc đậy nắp hòm, cậu bỗng ngẩng đầu nhìn Văn Hỉ, hỏi: “Văn Hỉ công công, đạo di chiếu năm ấy thật sự đã được đưa ra ngoài sao?”
“Ừm?” Văn Hỉ khẽ nhướng mày, “Sao lại hỏi vậy?”
“Mấy năm nay, Thủ Thiện công công luôn không thể nguôi ngoai áy náy với Vũ Phúc công công, ngay cả trong mộng cũng từng khóc tự trách, nói nếu năm ấy không giao di chiếu cho Vũ Phúc công công thì đã không hại chết ông ấy.” Tiểu Yếp nghe từ nơi khác rằng đạo di chiếu kia do Trần Thủ Thiện khâu vào áo trong, lén mang ra khỏi cung, vì vậy mới hỏi, “Nếu ngay từ đầu Thủ Thiện công công đã đưa di chiếu cho người khác, vậy ông ấy đã đưa nó ra khỏi cung bằng cách nào?”
Văn Hỉ nhìn Tiểu Yếp, chỉ cười không đáp, nhất thời muôn vàn suy nghĩ dâng lên, tâm trí cũng trôi xa, nhớ lại chuyện rất nhiều năm trước.
Thuở nhỏ nhà hắn nghèo khó, đã tới mức chẳng có gạo mà nấu, vì muốn nuôi sống huynh trưởng, cha mẹ bán hắn vào hoàng cung. Khi ấy hắn còn quá nhỏ, chẳng có bao nhiêu đau buồn vì phải chia lìa người thân, chỉ nhớ cung hình quá mức đau đớn, suýt lấy mạng hắn.
Sau khi tịnh thân, hắn bệnh nặng một trận, lúc tính mạng nguy kịch được một người ở Tư Công giám đút cho mấy ngụm thuốc mới nhặt lại được một mạng, may mắn sống sót.
Sau này mới biết người ấy tên Vũ Phúc, là tượng sư có tiếng ở Tư Công giám, nhưng bởi trời sinh tai có tật nên ngày thường cũng thường xuyên bị bắt nạt, lúc thì công lao bị người khác mạo nhận, lúc thì có kẻ đứng ngay trước mặt mắng chửi, ông đều chẳng hay biết, vẫn cười với người ta.
Khi ấy Văn Hỉ còn chưa có tên, được phân tới cung của một hậu phi thất sủng, được ban tên “Tiểu Kiệm”. Hậu phi kia quanh năm không được sủng ái, tính tình càng lúc càng âm độc, ngày ngày đánh mắng Văn Hỉ, còn đổi tên hắn thành “đồ đê tiện”, hơi một chút liền bắt hắn quỳ ngoài cửa tự tát vào mặt, thường phải đánh tới khi mặt sưng như đầu heo, máu mũi chảy ròng mới được dừng.
Trong hậu cung chẳng thiếu cung nhân bị giày vò tới chết như vậy, Văn Hỉ cũng không phải ngoại lệ. Đúng lúc hắn cho rằng sớm muộn có một ngày mình sẽ chết dưới tay vị hậu phi này hoặc chết giữa trời băng tuyết, bỗng có người tặng phi tử một quả hồ lô bằng ngọc, chúc nàng phúc khí liên miên, vận may phủ đầu. Chẳng biết là trùng hợp hay thế nào, nàng nhận hồ lô ngọc chưa bao lâu liền được Hoàng thượng để mắt, mang thai, thuận lợi tấn vị.
Mãi tới khi Văn Hỉ được đưa tới Tư Công giám mới biết quả hồ lô ngọc kia là Vũ Phúc nhờ người tặng, sau khi phi tử được sủng ái, ông nhân cơ hội xin Văn Hỉ về Tư Công giám. Vũ Phúc nhận hắn làm đồ đệ, đặt cho hắn một cái tên mới, nói muốn góp thành ý nghĩa tốt đẹp “văn võ song toàn”. Khoảng thời gian sau đó là những ngày tháng hạnh phúc, viên mãn nhất trong đời Văn Hỉ.
Nhưng người làm việc trong cung từ trước tới nay đều như cưỡi ngựa bên bờ vực, chỉ sơ suất một chút sẽ rơi xuống vực sâu vạn trượng. Tranh đấu hậu cung lan tới Tư Công giám, có người ghi hận vị hậu phi được sủng ái kia, sau khi ra tay hãm hại nàng, ngay cả Vũ Phúc từng tặng hồ lô ngọc cũng bị liên lụy, chẳng những bị chụp tội danh vô căn cứ, muốn đánh gãy hai tay, còn phải bị đày xuống Hỗn đường thấp kém nhất, làm việc khiêng thùng phân.
Sao có thể như vậy được? Đôi tay của sư phụ là món quà trời ban, từng tạc ra biết bao vật sống động như thật, nếu từ đó bị phế cả hai tay thì đáng tiếc biết bao. Rõ ràng là tượng sư nổi danh ở Tư Công giám, vậy mà chỉ vì là một thái giám liền có thể dễ dàng bị người ta xử trí.
Văn Hỉ chạy vạy khắp nơi, cầu xin hết tất cả mọi người, cuối cùng quỳ dưới gối Chưởng ấn Ngự Mã giám, nhận ông ta làm nghĩa phụ, hứa sau này sẽ làm nội ứng cho ông ta trong cung, làm trâu làm ngựa báo đáp, mới được Chưởng ấn công công đứng giữa vận hành, giữ lại đôi tay của sư phụ.
Sau đó Văn Hỉ liền lao mình vào tranh đấu tiền triều hậu cung, không ngừng bám víu quyền quý, như chó giẫm tôn nghiêm xuống chân, sống lưng cũng cong vào bụi đất, nịnh nọt đến cực điểm, chỉ cầu từng bước thăng cao. Nghĩa phụ bảo hắn nằm dưới đất học chó sủa, hắn còn có thể suy một ra ba, chẳng những học được tiếng sủa của nhiều loại chó, còn biết lăn lộn vẫy đuôi, bắt chước giống như thật.
Vũ Phúc thấy hắn như vậy cũng từng khuyên mấy lần, nhưng Văn Hỉ đã quyết tâm nhất định phải bò lên trên, vì vậy lần nào cũng qua loa cho xong, không nghe những lời khuyên tận tình của sư phụ. Nhưng còn chưa đợi hắn bò tới vị trí đủ để sư phụ hưởng phúc, không còn bị bất kỳ ai bắt nạt thì biến cố đột nhiên xảy ra.
Đêm ấy Hoàng đế băng hà, trong cung đều là người của Tề Hựu và Triệu Chấp, khắp cung tiêu điều, người người bất an. Văn Hỉ luôn cảm thấy trong lòng hoảng hốt, liền chạy tới chỗ sư phụ, lại biết trong tay ông có một đạo di chiếu.
Di chiếu thật được lập vào Minh Tuyên năm thứ hai mươi sáu, chính là một tháng trước khi Hoàng đế băng hà. Ban đầu vật ấy được giấu trong tay Bỉnh bút thái giám, nhưng vào đêm trước khi chuẩn bị đưa ra khỏi cung, ông phát hiện mình đã bị người bán đứng, bèn giao di chiếu cho Trần Thủ Thiện dưới quyền, dặn ông nhất định phải đưa ra khỏi cung. Sau khi để lại lời trăng trối ấy, ngày hôm sau ông liền bị giết.
Trần Thủ Thiện quá nhát gan, lại không có đường ra khỏi cung, nghĩ đi nghĩ lại bèn giao di chiếu cho bạn thân Vũ Phúc, bởi Vũ Phúc là tượng sư của Tư Công giám, thỉnh thoảng phải ra ngoài mua vật liệu, ít nhất ông còn có cơ hội xuất cung.
Văn Hỉ biết chuyện đương nhiên sợ tới gan mật muốn vỡ, lập tức tranh cãi với sư phụ. Loại đồ như di chiếu, rơi vào tay ai cũng đủ mất đầu, huống hồ người cần giao lại là Thái tử đã bị phế và Hứa Phụng bị biếm đi, rõ ràng đây là một tử cục không thể thắng, bất cứ ai tham dự đều chẳng có kết cục tốt.
Bọn họ chỉ là thái giám, có thể giành được một chỗ đứng trong cung đã đủ rồi, còn hoàng vị thuộc về ai, giang sơn thuộc về ai thì liên quan gì tới bọn họ? Chẳng qua đổi một chủ tử để hầu hạ, đâu có gì khác.
Nhưng sư phụ thế nào cũng không chịu đồng ý, chẳng những hung hăng tát hắn một cái, còn nghiêm giọng dạy dỗ một trận.
Ông rơi nước mắt, nghiến răng căm giận nói: “Hứa đại nhân mang lòng đại thiện, năm xưa ta làm việc trong cung xảy ra sai sót, sắp bị chặt hai tay, chính Hứa đại nhân nghe chuyện rồi cầu tình cho ta. Người nói tay ta khéo, biết điêu khắc, sau này nhất định sẽ làm nên chuyện. Tác phẩm gỗ đầu tiên trong đời ta chính do Hứa đại nhân tự tay dạy. Người là Thái tử chi sư! Vậy mà không chê ta thân phận thấp hèn, đặc biệt tới tận phòng ta tặng dụng cụ điêu khắc, không có người thì không có ta hôm nay! Người cả đời thanh liêm chính trực, giữ vững chính đạo, lại bị gian nhân cấu hãm chịu oan, lưu đày ngoài biên ải, đạo di chiếu này chẳng những có thể rửa sạch oan khuất cũ, còn có thể cứu người!”
Đôi mắt ngày thường ôn hòa yếu đuối của ông lộ ra sự kiên quyết chưa từng có: “Ta phải cứu Hứa đại nhân, cho dù phải bỏ mạng vì chuyện này cũng không tiếc!”
Văn Hỉ bỏ đi, ôm vết thương trên mặt, lang thang bên ngoài suốt một đêm, tới gần sáng mới nghĩ thông, không thể để sư phụ bỏ mạng, nếu phải đưa di chiếu, hắn có thể thay ông. Vì vậy hắn chạy về chỗ sư phụ, lại nhìn thấy một thi thể đã bị cực hình tra tấn tới chết.
Thấy chưa, hắn đã nói từ lâu rồi, thái giám nên làm chuyện thái giám cần làm, những đại sự cứu triều đình, cứu thiên hạ ấy, bọn họ có bản lĩnh gì mà quản? Vậy mà sư phụ cứ không biết lượng sức, cố lấy cánh tay bọ ngựa chặn xe, rơi vào kết cục thế này cũng là tự chuốc lấy.
Hắn ngồi bệt bên thi thể sư phụ, toàn thân lăn đầy máu bẩn, vết thương trong miệng bị răng cắn rách đã lở loét, miệng đầy máu đỏ. Thi thể sư phụ vốn đã tàn tạ, chẳng còn chỗ nào sạch sẽ, sau khi bị hắn phun thêm một ngụm máu lên, Văn Hỉ lại cuống quýt lau đi, nước mắt hòa với máu càng lau càng bẩn, cuối cùng mặt sư phụ hoàn toàn lem luốc, cũng không thể bất đắc dĩ nhẹ giọng mắng hắn đừng làm loạn nữa.
Chưởng ấn Ngự Mã giám biết di chiếu tồn tại, phái người bí mật lục soát trong cung, Vũ Phúc không phải thái giám duy nhất bị ép hỏi tới chết, nhưng cuối cùng vẫn chẳng ai nhìn thấy đạo di chiếu được nói tới kia.
Chỉ có Văn Hỉ tìm thấy nó trong ngăn bí mật nơi sư phụ cất vật quan trọng. Khi ấy trong cung giới nghiêm, đừng nói người, ngay cả một con mèo hoang cũng không thể ra vào, càng không nói tới một người sống sờ sờ.
Vì vậy đạo di chiếu ấy không được đưa tới tay Hách Liên tướng quân ở tận Tái Bắc, cũng chẳng tới tay Hứa Phụng ở Đan Ngọc, mà bị Văn Hỉ tự biết xuất cung vô vọng châm một mồi lửa, đốt sạch.
Sau đó, hắn thay y phục sạch sẽ, trước tiên bí mật truyền tin cho người của Triệu Chấp, nói rõ mình sẽ dùng thân phận nghĩa tử lấy lòng tin của Chưởng ấn Ngự Mã giám, đem đầu ông ta tới. Triệu Chấp đồng ý, phái binh mã tiếp ứng hắn. Theo kế hoạch, hắn tới Ngự Mã giám báo tin cho nghĩa phụ, nói trong tay mình có bảo vật ông ta đã tìm suốt đêm, đặc biệt mang tới dâng cho nghĩa phụ.
Nhờ ngày thường hắn giả chó quá giống, Chưởng ấn tin tưởng hắn, sau khi thả lỏng cảnh giác liền cho mọi người trong phòng lui ra, Văn Hỉ nhân cơ hội ấy chém đầu ông ta. Tên ác nhân này ăn tới béo đầu mập tai, cổ cực kỳ cứng, hắn lại là lần đầu giết người, máu phun đầy mặt, cán đao mấy lần trượt khỏi tay, phải chém liên tiếp bảy tám nhát vào cổ mới chặt đứt được xương cổ.
Binh mã của Triệu Chấp cùng hắn nội ứng ngoại hợp, đánh tan Ngự Mã giám, dẹp yên cung loạn, giúp Tề Hựu thuận lợi kế vị. Sau đó hắn cũng nhờ công đầu này được Tề Hựu tin dùng, thăng tiến như diều gặp gió, từng bước lên cao, mới có Chưởng ấn công công Ngô Cát An sau này.
Di chiếu thật căn bản không thể mang ra khỏi hoàng cung, đã sớm bị thiêu hủy trong đêm Hoàng đế băng hà. Sở dĩ hắn kiên trì không ngừng liên lạc với Hứa Phụng chính là vì từ đầu đã chuẩn bị làm giả di chiếu, sau này quen biết Chu Hạnh mới biết dưới tay nàng có một cao thủ được gọi là “Quỷ Thủ”.
Gấm dùng làm di chiếu là thật, ấn của Hoàng đế bên trên cũng được dập lại, ngay cả nét chữ cũng phải trải qua hàng ngàn hàng vạn lần mô phỏng mới đạt tới mức lấy giả làm thật. Di chiếu truyền vị là có thật, nhưng đạo trong tay Chu Hạnh lại là hàng giả chính cống.
Văn Hỉ nheo mắt cười, xoa đầu Tiểu Yếp một cái, thầm nghĩ đứa trẻ này tuổi còn nhỏ mà có thể kín miệng tới vậy, bí mật Trần Thủ Thiện tiết lộ trong lúc mê sảng, cậu cứ thế giữ tới tận hôm nay mới hỏi, rõ ràng cũng không đơn thuần chỉ vì nghi hoặc. Hắn nói: “Trẻ nhỏ dễ dạy, sau này ngươi theo ta, sống cho đàng hoàng, tự sẽ có tiền đồ rộng mở.”
“Còn đạo di chiếu ấy thật hay giả đã không còn quan trọng.” Hắn nói, “Dù sao cũng đã tới tay Hoàng thượng, thật hay giả đều do người định đoạt.”
Trong cung truyền tới tiếng chuông báo giờ, đã là giờ Tỵ. Tề Huyên cho tất cả cung nhân trong điện lui xuống, lặng lẽ ngồi trước án. Trong lư hương khói trắng lượn lờ dâng lên, gió nhẹ lướt qua, trên bàn ngoài chồng tấu sớ còn đặt đạo di chiếu kia.
Hắn nín thở tập trung, ánh mắt xem xét từng tấc một, rất lâu không nhúc nhích.
Đạo di chiếu này được làm tới mức không chê vào đâu được, chỗ nào cũng giống thật, gần như chẳng có bất kỳ sơ hở nào, chỉ có một điểm — tư ấn của Phụ hoàng từng bị rơi một lần, góc chữ cuối cùng bị sứt, lúc đóng ấn nhất định sẽ vì lực không đều mà màu chỗ ấy nhạt hơn. Nhưng tư ấn trên đạo di chiếu trước mắt lại in màu đầy đủ, vì vậy năm xưa trong hí lâu bỏ hoang ở Đan Ngọc, vừa nhìn lần đầu hắn đã biết đạo di chiếu này thật hay giả.
Chu Hạnh đã có bản lĩnh làm ra một đạo di chiếu lấy giả làm thật, chắc chắn từng thấy đồ thật, đến nét chữ cũng có thể mô phỏng chân thực đến cực điểm, sao lại sơ suất ở con dấu?
Đêm ấy trong hí lâu, Chu Hạnh đưa hắn một nhành lạp mai bằng ngọc, lại lấy ra đạo di chiếu giả, chính là muốn nói cho hắn biết quyết tâm của Hứa Phụng và việc nàng có nội ứng trong hoàng cung, để hắn hiểu đây là cục diện vạn sự đã đủ, chỉ thiếu gió đông.
Thực ra đây là một bài thi, hắn hạ bút trả lời, tới hôm nay, nghĩ rằng bài làm mình giao ra cũng đã khiến vị kỳ nhân từ Tái Bắc tới kia hài lòng.
Tề Huyên ngẩng đầu, xuyên qua cửa sổ đang mở nhìn cây lạp mai được chuyển trồng trong sân, không khỏi bật cười, nước mắt cũng theo đó chảy xuống, cuối cùng vào lúc này hắn đã có thể trả lời câu hỏi chưa từng thay đổi trong những phong thư ân sư kiên trì gửi tới suốt nhiều năm.
“Tiên sinh, xuân ý lại về, lạp mai ắt sẽ lại nở.” Hắn khép di chiếu, lau nước mắt, cất tiếng gọi, “Người đâu. Đóng niêm vật này, vĩnh viễn cất sâu trong quốc khố, sau này không có chiếu lệnh của trẫm, bất kỳ ai cũng không được chạm vào.”
Đang giữa trưa, kinh thành náo nhiệt. Hí lâu sắp mở màn, bên trong đã ngồi kín người, Chu Hạnh xách cao sơn tra cùng mứt trái cây, vừa liếc đã nhìn thấy Lục Chước Quang giữa biển người, như thể cả người hắn đang phát sáng, vui vẻ ngồi xuống bên cạnh.
Nhưng chẳng biết người này lại đang giận chuyện gì, cứ nghiêng đầu chăm chăm nhìn hí đài, nàng nói chuyện cũng chẳng thèm đáp. Chu Hạnh chẳng hiểu ra sao, hỏi: “Chàng lại làm sao vậy?”
Lục Chước Quang đã ngồi một lúc lâu, luôn tự khuyên giải mình, càng khuyên càng giận, gần như tức nổ phổi. Hắn quay đầu, nở với Chu Hạnh một nụ cười đẹp đến chói mắt, nhẹ giọng nói: “Chu cô nương, đây là thứ vừa rồi có người nhờ ta trả lại cho nàng.”
Lời vừa dứt, cây trâm sen trắng liền bị ném vào lòng nàng. Chu Hạnh cầm lên nhìn, cánh hoa đã bị vặn tới chẳng còn mấy cánh, cả cây trâm cong queo chẳng khác đường núi mười tám khúc, hoàn toàn mất nguyên dạng, nhưng nàng vẫn nhận ra đây là cây trâm hoa năm ấy tặng Phàn Úy trong đêm hội ở Linh Kinh.
Lần này hỏng rồi. Quả thật nàng đã tính kế Phàn Úy một phen rất ác, cũng từng nghĩ người này từ đó sẽ hận nàng rồi làm vài chuyện nhỏ để trả đũa, chỉ là không ngờ chiêu này vẫn quá hiểm, sao lại liên lụy tới Lục Chước Quang vốn chẳng rộng lượng gì? Chẳng lẽ bây giờ ai cũng nhìn ra hắn nhỏ nhen rồi sao?
Chu Hạnh cầm cây trâm sen gần như sắp nát vụn, mở mắt nói dối: “Đây là gì? Ta chưa từng thấy bao giờ.”
Lục Chước Quang thấy nàng chối sạch, liền tốt bụng giúp nàng nhớ lại: “Đêm hội Linh Kinh hôm ấy, nàng ăn vận lộng lẫy cùng Phàn Úy tình chàng ý thiếp dạo phố, thấy người địa phương ngày lễ đều cài hoa, thế là học theo những nam nữ trẻ tuổi tình nồng ý mật kia, đứng trước sạp tỉ mỉ lựa chọn, chọn ra một cây sen trắng, một cây hải đường đỏ, đem ướm lên đầu Phàn Úy xem hắn hợp loại nào. Tên ngốc Phàn Úy nói thích sen trắng, thế là nàng tặng hắn trâm sen, còn cây hải đường thừa lại mới bố thí cho ta…”
“Dừng.” Chu Hạnh nghe hắn tự biên ra một vở như vậy, dở khóc dở cười, “Ai nói là bố thí cho chàng? Khi ấy ta thấy trâm hoa trên sạp đẹp, muốn mua một cây tặng chàng, chỉ là lúc đang chọn thì bị Phàn Úy nhìn thấy, hắn hiểu lầm rằng ta muốn tặng hắn, nên ta thuận nước đẩy thuyền mua cho hắn một cây.”
Lục Chước Quang quay mặt sang chỗ khác, rũ mi, thấp giọng nói: “Bây giờ nàng thừa nhận đã đem thứ hắn chọn thừa cho ta rồi phải không?”
Chu Hạnh ghé sát hắn, quấn lấy cánh tay hắn thân mật, nhỏ giọng nói: “Vốn dĩ ta muốn mua cả hai cây cho chàng, chỉ là không khéo bị hắn nhìn thấy nên bất đắc dĩ phải chia cho hắn một cây, chàng cũng biết những chuyện ấy đều chỉ để diễn trò qua loa. Huống hồ so hai thứ với nhau, hải đường vốn hợp với chàng hơn. Chàng xem, ý nghĩ muốn tặng chàng có trước, vì vậy không thể tính là đồ chọn thừa, nếu khi ấy hắn chọn hải đường, ta cũng sẽ không mua cho hắn.”
Lục Chước Quang hỏi: “Vì sao?”
Nghe giọng hắn đã dịu đi, Chu Hạnh lập tức được đằng chân lân đằng đầu, lén nắm lấy tay hắn, đan mười ngón vào nhau, lòng bàn tay áp sát, nói: “Ai bảo Lục tú tài sinh ra tuyệt sắc như vậy, thiên hạ vô song, sen trắng quá thanh đạm, chỉ có màu sắc diễm lệ như hải đường mới miễn cưỡng đủ làm nền cho chàng. Chỉ là một cây trâm hoa thôi, đừng giận nữa, sau này mỗi năm ta đều tặng chàng một cây, được không?”
Lục Chước Quang trở tay nắm lấy tay nàng, cuối cùng cũng quay mặt lại, đôi mắt đen như mực nhìn nàng: “Tái Bắc có trâm hoa không?”
Chu Hạnh cười, đưa một miếng cao sơn tra vào miệng hắn: “Ta tự tay làm cho chàng.”
Hắn bị chua tới hơi nhíu mày, miệng còn ngậm đồ nên hỏi không rõ tiếng: “Nàng biết làm sao?”
“Ta học.” Chu Hạnh nói, “Ta học gì cũng nhanh, chỉ một cây trâm hoa mà thôi, chẳng đáng kể, chàng muốn bao nhiêu ta làm cho chàng bấy nhiêu.”
Lời vừa dứt, trên sân khấu vang lên tiếng chiêng trống, hí lâu ồn ào lập tức yên tĩnh, Chu Hạnh cũng ngồi ngay ngắn lại, nói: “Bắt đầu rồi, bắt đầu rồi, chúng ta chuyên tâm xem hí, đừng để ý mấy người không liên quan.”
Lúc này Lục Chước Quang mới không so đo nữa, tiện tay gạt cây trâm sen trên đùi Chu Hạnh xuống đất, giẫm một chân lên, cả vở hí từ đầu tới cuối cũng không hề nhấc chân ra.
Hí đài mới mở luôn có một quy củ gọi là phá đài. Thông thường sẽ vặn đầu một con gà sống, rắc đầy tiền đồng và gạo sống trên đất, rồi để Hắc Bạch nhị quỷ đi quanh sân khấu, mang ý trừ uế phá tà, cầu mong sau này hí đài làm ăn hưng thịnh, mọi chuyện thuận lợi.
Chu Hạnh nhìn người trên sân khấu sống sờ sờ vặn đứt đầu gà, máu rắc đầy đất, bỗng hơi thất thần.
Năm ấy sau khi cùng Hứa Phụng hoàn thiện toàn bộ mưu tính, nàng không đồng ý để Hứa Phụng dùng tính mạng mở màn ván cờ này, nhưng Hứa Phụng lại nhất quyết làm vậy. Ông nói nếu không lấy máu rửa đao thì không thể khiến Tề Huyên khơi lại chí hướng năm xưa, huống hồ muốn ông thoát khỏi kinh thành tới Đan Ngọc cũng chỉ có một cách này.
Ông biến thư phòng của mình thành hí đài, theo quy củ phá đài, kéo màn cho vở đại hí nhất định sẽ vang danh thiên hạ của Chu Hạnh cùng những người khác.
Đêm trước khi chia tay, Hứa Phụng tự tay viết di ngôn giấu trong bình sứ, gương mặt đầy sương gió trông già nua vô cùng, nhưng đôi mắt lại sáng chẳng kém tuổi hai mươi phong hoa. Ông nói với Chu Hạnh: “Hôm nay ta chết, sau này vở hí này phải dựa vào ngươi. Ngươi hãy nhớ kỹ, vở hí này dù hát đến vui tai đẹp mắt hay sai cung lạc phách, bất kể kết quả cuối cùng thế nào, nhất định phải để thiên hạ đều biết, ít nhất khiến người đời nhớ được những kẻ vô danh như chúng ta, không để âm thầm bị chôn vùi giữa nhân gian.”
“Ta tin chắc thiên lý sáng tỏ, chính khí trường tồn, cho dù hôm nay ngươi và ta muôn vàn gian khó, rồi cũng sẽ có ngày cành trúc lại vươn, núi tối lại sáng.” Ông chăm chú nhìn Chu Hạnh, chân thành nói, “Chu Hạnh, phần còn lại giao cho ngươi.”
“Hứa đại nhân, Chu mỗ không phụ lời phó thác trước lúc lâm chung của ngài.” Chu Hạnh nghe tiếng chiêng trống vang trời, nhịp phách cùng hòa, thấp giọng tự nói, “Nay lạp mai lại nở, chúc mừng ngài đã được như nguyện.”
Vở hí này ngay từ đầu đã định sẵn là hoang đường, vì vậy những người diễn trong đó cũng phải khác với người thường, đặc lập độc hành, nếu không khó lòng nhập hí. Chính bởi người đời luôn theo khuôn phép, từng nhịp từng phách, cho dù muôn kiếp nạn giáng xuống, lúc chịu bất công vẫn cam lòng trôi theo dòng nước, uất ức sống dưới quy củ và chế độ cũ, nên nhân thế mênh mông này cũng cần vài kẻ khác thường sai cung lạc phách, dù cuối cùng không thể phá cũ lập mới, cũng chẳng thể công thành danh toại, ít nhất vẫn sẽ là nét điểm xuyết sáng nhất giữa thế gian đục ngầu này.
Một tiếng chiêng chấn tai rơi xuống, màn phá đài khép lại, cả khán phòng bùng lên tiếng vỗ tay như sấm, tiếng reo hò vang dậy: “Hay! Hay!”
Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)
Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.