Chương 91: Dày công giăng lưới
Thôi Tuệ tranh thủ lúc trời còn chưa sáng đã cưỡi ngựa ra khỏi cửa, khi đi vội vàng nhét mấy miếng bánh vào bụng cho đỡ đói, không ngờ dọc đường xóc nảy dữ dội, đến khi chạy tới lễ khố, hắn vừa xuống ngựa còn chưa nói câu nào đã ôm bụng nôn thốc nôn tháo.
Đám thị vệ bận rộn suốt một đêm thấy hắn như vậy, lập tức sợ đến hồn bay phách lạc: ngay cả Thôi đại nhân xưa nay trầm ổn cũng bị dọa đến nôn, đủ thấy lễ khố bị thiêu quả thật là đại họa tày trời!
Bọn họ cuống cuồng nhào tới, đen nghịt quỳ kín mặt đất dập đầu xin tha, ai nấy đều tranh nhau biện bạch cho mình. Lễ khố ngày đêm canh phòng nghiêm ngặt, chưa từng lơ là, bọn họ quả thật không biết ngọn lửa này rốt cuộc bốc lên thế nào.
Thôi Tuệ nôn sạch bụng, cả người tỉnh táo hơn không ít, hơi chỉnh lại dáng vẻ chật vật, phớt lờ đám người đang ong ong dưới đất, bước nhanh vào trong sân. Hắn chỉ nhìn lễ khố đã bị thiêu rụi một cái, sắc mặt lập tức trắng bệch, hai chân run lẩy bẩy, lảo đảo lùi lại mấy bước không đứng vững, ngã ngửa bốn vó lên trời. Thị vệ vội vàng xông tới, hết tiếng này nối tiếng khác gọi đại nhân, dìu hắn đứng dậy.
Thôi Tuệ dường như bị dọa không nhẹ, xương cốt toàn thân mềm nhũn như sợi mì, ba người hợp sức mới miễn cưỡng giúp hắn đứng vững: “Rốt cuộc… rốt cuộc là chuyện gì! Đang yên đang lành sao lại cháy?! Gần đây trời nóng, nơi này lại chứa đầy rượu, bản quan đã dặn đi dặn lại các ngươi phải để tâm, vậy mà vẫn gây ra cho ta một đại họa thế này!”
Thị vệ khóc trời gọi đất, tiếng nào tiếng nấy đều kêu oan, trong sân loạn thành một đoàn. Ánh mắt Thôi Tuệ lướt qua kiến trúc bị thiêu cháy trước mặt, chợt cả người run mạnh, như mất hồn đẩy người bên cạnh ra, bước nhanh về phía trước mấy bước. Hắn giơ tay, chỉ vào hai hàng chữ lớn trên cột, run giọng hỏi: “Ai làm chuyện này?!”
Không ai trả lời, chỉ có tiếng cầu xin tha mạng vang đầy mặt đất. Thôi Tuệ nghiêm giọng quát mắng mọi người, sai mấy người đi dập hết những đốm lửa còn sót lại, lại xóa sạch cạo bỏ chữ trên cột, mấy người khác thì đi báo quan, dẫn người tới điều tra. Trong sân lập tức bận rộn hẳn lên, thị vệ vội vã chạy qua bên cạnh hắn, kẻ thì ngăn bá tánh chạy tới xem náo nhiệt, kẻ thì dập tàn lửa kiểm kê số vò rượu còn lại, chẳng còn ai để tâm tới vị Thôi đại nhân đã sợ đến nôn mửa kia nữa.
Hắn khoanh tay đứng dưới tường, nhắm mắt không biểu cảm, sắc mặt vẫn hơi tái nhợt, trông khá giống đã lòng như tro tàn, bất cứ lúc nào cũng có thể tìm một chỗ mát mẻ tự đào mồ cho mình rồi nằm vào chờ chết. Nhưng thực ra hắn đang không ngừng xem xét lại màn biểu diễn vừa rồi của mình trong đầu.
Tuy chuyện vừa xuống ngựa đã nôn không phải do hắn cố ý, nhưng cũng coi như dệt hoa trên gấm, sau đó bị dọa đến ngã xuống đất mất mặt đôi chút thì có vẻ hơi khoa trương, nhưng cũng chẳng sao, không sợ diễn quá tay, chỉ sợ diễn không giống.
Bởi vì hung thủ phóng hỏa lễ khố không phải ai khác, mà chính là Thôi Tuệ hắn.
Trước đó Chu Hạnh đưa tới tám chữ “trời hanh vật khô, cẩn thận củi lửa”, sở dĩ Thôi Tuệ hoàn toàn không đoán ra được ý nghĩa bên trong là bởi tin tức hắn nhận được chỉ có một nửa, còn một nửa khác do Ngô Cát An truyền tới.
Hôm ấy ông ta sáng sớm đã đứng chờ trước cửa lễ khố, không chỉ ngay trước mặt Thôi Tuệ trách mắng thị vệ phải đề phòng hỏa hoạn, còn đặc biệt nhấn mạnh Hoàng đế vì lời giải đoán thiên tượng của Tư Thiên giám mà ngày đêm lo âu, khó được an lòng. Lúc rời đi, Ngô Cát An lại nói công việc trong cung của mình bận rộn, nhờ hắn chịu khó chạy tới nơi này thường xuyên hơn.
Mỗi một câu ông ta nói đều có thâm ý, rơi vào tai Thôi Tuệ liền hợp thành một mệnh lệnh — phóng hỏa thiêu lễ khố, sau đó mượn cớ “điềm trời”, đẩy thêm một bước cho lời đồn “Tiên đế để lại chiếu thư truyền vị” trong thành, khiến những lời xôn xao vốn đã không thể dập xuống càng dâng cao thêm một tầng.
Đây chính là nhiệm vụ Chu Hạnh giao cho hắn. Thôi Tuệ thầm nghĩ may mà mình trời sinh đại trí, rất nhanh đã giải được câu đố này, đổi thành người khác e rằng nghĩ một năm nửa năm cũng chưa chắc nghĩ thông.
Cái chết của Hách Liên Khâm mãi không tra ra đầu mối, nhưng bất kể làm gì, muốn đoạt quyền thì cuối cùng vẫn phải ra tay từ chiếu thư truyền vị. Chỉ khi khiến người trong thiên hạ cho rằng Hoàng đế hiện nay là nghịch tặc soán vị, bọn họ mới có thể xuất quân đường đường chính chính, lấy danh nghĩa dẹp loạn sửa sai ép hắn rời khỏi ngai vàng, như vậy mới có thể khiến bá quan thần phục, lòng dân hướng về.
Hình bộ phái người tới điều tra lễ khố, phát hiện một ngọn đèn treo trên tường vì lâu năm không được tu sửa nên gãy rơi xuống, ngọn lửa đập xuống đất rồi bén cháy, lại bởi nơi này cất không ít rượu, sau khi nắp vò bị lửa thiêu hỏng, thế lửa chỉ trong chớp mắt đã bùng lên, sau đó người cứu hỏa lại ngu xuẩn hắt nước vào rượu khiến ngọn lửa càng dữ dội, cuối cùng mới khiến lễ khố bị thiêu thành thế này, bởi vậy không hề có hung thủ phóng hỏa.
Còn mười sáu chữ “Nghịch tặc soán vị, quốc vận ngày suy, binh đao liên miên, thiên hạ lầm than” quỷ dị xuất hiện trên cây cột sau trận cháy, mặc dù Thôi Tuệ đã nghiêm khắc uy hiếp những thị vệ có mặt phải ngậm chặt miệng, chẳng biết tin tức vẫn lọt ra ngoài bằng cách nào, chỉ sau một đêm, câu này đã truyền khắp phố lớn ngõ nhỏ trong kinh thành, rất nhanh vượt qua cửa ải, lan về khắp nơi.
Những năm gần đây Đại Tề tai họa không ngừng, dân sinh khốn khổ, cảnh tượng xương trắng chất chồng có thể thấy khắp nơi, lại thêm sưu cao thuế nặng, quan phỉ tranh đấu, bá tánh từ lâu đã chất chứa oán hận với triều đình. Trước đó đã có lời đồn Tiên đế để lại chiếu thư truyền vị, ngầm ám chỉ ngôi vị của Hoàng đế hiện nay không chính đáng, giờ lại có điềm dữ từ trời giáng xuống, chỉ thẳng rằng kẻ ngồi trên ngai vàng là một tên phản tặc, chính vì thế mới khiến quốc vận Đại Tề ngày một suy yếu, thiên tai liên tiếp, mọi thứ đều đang đi về phía diệt vong.
Khi người phàm bị ép tới đường cùng không còn cách nào khác hoặc phải đối mặt với tai họa không thể chống lại, họ luôn cầu xin ông trời, gửi gắm hy vọng vào thần tiên — ông trời lúc nào cũng đúng.
Nỗi căm hận sắc nhọn của bá tánh luôn cần tìm một nguồn cơn, nếu không Hách Liên Khâm cũng chẳng bị viết vào hí khúc thoại bản, bị người đời phỉ nhổ suốt bao năm. Mặc dù quan phủ phản ứng với tốc độ nhanh nhất, ngăn chặn lời đồn lan truyền, thậm chí còn dùng tới hình phạt, bắt những kẻ truyền bậy về đánh trượng, nhưng vẫn khó lòng ngăn được thế lửa đồng hoang này, chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi, lời đồn đã sinh ra mấy phiên bản, bịa lại từ đầu đến cuối tội trạng “ly miêu tráo Thái tử” năm xưa của Hoàng đế, truyền đi thần kỳ đến mức như thật.
Hoàng đế nổi trận lôi đình, sai người điều tra triệt để cái gọi là “điềm trời” này xuất phát từ tay tên phản tặc nào, ngay cả Thôi Tuệ vì trông coi lễ khố bất lực cũng bị liên lụy, không chỉ bị mắng té tát trước mặt bá quan trong buổi chầu sớm, còn bị phạt bổng lộc và đánh trượng.
Sau khi tan chầu, cơn kinh giận của hắn vẫn chưa nguôi, chỉ cảm thấy lồng ngực đau tức, đầu óc choáng váng căng trướng, những di chứng để lại sau lần ngã bệnh trước đó cũng giống như đám chuyện vụn vặt đáng căm hận này, cứ quấn lấy hắn không buông, khiến hắn tinh thần tiều tụy, ngày đêm khó yên.
Sao có thể tồn tại chiếu thư truyền vị?
Hoàng đế nghĩ thế nào cũng không hiểu nổi chuyện này. Năm ấy sau khi Tề Huyên bị phế, Tiên đế không hề lập thêm Trữ quân mới, cho tới sau đó long thể bị tổn hại, bệnh nặng quấn thân, thần trí đã tới mức khi tỉnh khi mê, lấy đâu ra cơ hội lập chiếu?
Huống hồ Tiên đế bệnh nằm không dậy, vào năm gần băng hà, hắn và Triệu Chấp đã liên thủ, cùng nội thần hậu cung khống chế hoàng cung đến bảy tám phần, khắp nơi đều có tai mắt của bọn họ, cho dù thật sự có chiếu thư cũng không thể không lộ ra chút phong thanh nào. Sau khi đăng cơ, vì sợ chuyện năm xưa mưu hại Tiên đế, đoạt ngôi đăng cơ bị bại lộ, hắn dứt khoát diệt sạch những nội thần phi tần từng tham dự hoặc biết chuyện, đã cẩn thận tới mức này rồi, chẳng lẽ vẫn còn cá lọt lưới?
Lùi một vạn bước mà nói, cho dù thật sự lập chiếu thư, vì sao lại giao cho Hách Liên Khâm? Người này chẳng những ở xa tận Tái Bắc, còn vì sinh ra trong Hách Liên gia mà luôn bị Tiên đế nghi kỵ, cho dù chiếu thư thật sự có bản lĩnh mọc cánh bay khỏi hoàng cung cũng tuyệt đối không thể rơi vào tay hắn.
Rốt cuộc vì sao, rốt cuộc vì sao? Hoàng đế đi đi lại lại trong điện, nỗi lo âu trong lòng càng lúc càng nặng, hai mắt bị cơn nóng giận thiêu đến đỏ ngầu, nghĩ mãi trăm bề vẫn không tìm được lời giải.
“Hoàng thượng, Chưởng ấn công công cầu kiến.” Ngoài cửa truyền tới tiếng bẩm báo.
Hoàng đế nói: “Tuyên.”
Cửa điện mở ra, Ngô Cát An khom lưng bước vào, phía sau có hai thị vệ áp giải một lão nhân đang kinh hoảng thất thố. Mấy người tới giữa điện dập đầu hành lễ, sau đó thị vệ lui ra, cửa điện khép lại, bốn phía chìm vào yên tĩnh. Hoàng đế đánh giá lão nhân kia, chỉ cảm thấy quen mắt nhưng nhất thời không nhớ ra là ai, bực bội nói: “Ngô Cát An, ngươi đưa người này tới làm gì?”
Ngô Cát An nói: “Bẩm Hoàng thượng, người này tên Trần Thủ Thiện, trước kia làm việc tại Tư Lễ giám, lúc Tiên đế băng hà trong cung đại loạn, hắn bị người ta đập vào đầu thành kẻ ngốc, nô tài vốn nhớ trước kia hắn từng ban cho vài ân tình nên thu xếp hắn ở An Lạc đường dưỡng lão. Nhưng mấy ngày nay hắn cứ lén lén lút lút, hành vi bất thường, hôm nay còn mua chuộc thị vệ định lén trốn khỏi cung, nô tài sai người bắt lại tra khảo một phen, lão già này hưởng phúc quen rồi, không chịu nổi khổ sở, lập tức khai sạch.”
Hoàng đế sắc bén trừng về phía Trần Thủ Thiện, ra lệnh cho hắn ngẩng đầu lên rồi nhìn kỹ. Trên mặt hắn có thương tích nhưng không ảnh hưởng tới đường nét mày mắt, từng lớp nếp nhăn chồng chất, đã già vô cùng, cung nhân trong cung sống tới tuổi này không nhiều, Hoàng đế rất nhanh đã có ấn tượng với hắn. Năm xưa lúc hắn vào cung báo cáo công việc, quả thật từng thấy người này bên cạnh Tiên đế, hẳn là một trong số Bỉnh bút thái giám, vì tuổi quá cao nên trông đặc biệt nổi bật. Người sống lâu thì chuyện biết được cũng nhiều, hắn sống cả đời trong cung, khó tránh từng nghe thấy vài phong thanh mà người khác cố ý muốn che giấu, Hoàng đế đột nhiên hiểu được dụng ý Ngô Cát An áp giải người tới, trầm giọng hỏi: “Hắn đã khai những gì?”
“Mấy năm nay hắn đều giả ngốc, bởi năm xưa biết được chuyện không nên biết, sợ rước họa vào thân nên mới giả thành kẻ ngốc. Nhưng gần đây kinh thành bất ổn, trong ngoài cung lời đồn nổi lên khắp nơi, hắn sợ vỡ mật nên mới định trốn khỏi cung.” Ngô Cát An vừa nói vừa bò dậy tiến lên một bước, đá vào vai Trần Thủ Thiện khiến hắn ngã ngửa ra đất, quát mắng, “Lão già, còn không mau thành thật bẩm báo những chuyện ngươi biết cho Hoàng thượng!”
Trần Thủ Thiện khó nhọc lật người lại, toàn thân run rẩy khóc nói: “Hoàng thượng, nô tài không dám giấu giếm, mười một năm trước, Tiên đế quả thật đã bí mật lập chiếu thư truyền vị.”
Mười một năm trước, Minh Tuyên năm thứ bốn mươi tám, đó chính là năm Hách Liên Khâm dẫn binh tới hành cung cứu giá, năm kế sau khi Tề Huyên bị phế.
Hoàng đế nổi giận, tung một cú đá thẳng vào ngực hất Trần Thủ Thiện ngã lăn, quát: “Nói bậy! Làm gì có thứ chiếu thư truyền vị ấy!”
Trần Thủ Thiện tuổi thực sự đã quá cao, bị cú đá này làm phun máu, lần ngã này hồi lâu vẫn không bò dậy nổi, suýt nữa ngất chết. Nhưng hắn vẫn ghi nhớ sứ mệnh, trong ý thức mờ mịt tối sầm trước mắt cố gắng kéo ra một tia tỉnh táo, nghiến răng bò dậy, ho dữ dội mấy tiếng, ho sạch máu trong cổ họng rồi nuốt xuống, lại nói: “Nô tài tuyệt đối không dám nói bừa! Năm ấy lúc chiếu thư này được lập, người biết chuyện chưa tới mười người, một người bạn cũ của nô tài chính là một trong số đó. Về sau Tiên đế muốn giết người diệt khẩu, hắn trong lúc hoảng sợ đã kể chuyện này cho ta biết, ngày hôm sau liền chết đuối trong giếng, suốt bao năm qua nô tài tuyệt đối không dám nhắc với người thứ hai.”
“Ngươi coi trẫm là kẻ ngốc sao? Không bằng không chứng, ngươi nói gì trẫm cũng tin à?”
Trần Thủ Thiện vội nói: “Nô tài không dám bịa đặt vô căn cứ, Tiên đế lập chiếu thư truyền vị đã lấy dùng Hoàng đế chi bảo, Thượng Bảo giám có sổ ghi chép lưu lại, Hoàng thượng cứ sai người lấy ra kiểm chứng! Nô tài cũng chẳng muốn biết những chuyện ấy, người biết chuyện năm xưa đều chết sạch, nô tài chỉ có thể giả thành kẻ ngốc, bao năm qua mặc người khinh nhục không dám phản kháng, chỉ cầu được sống!”
Hoàng đế sa sầm mặt, trong lòng đã bắt đầu dao động. Thượng Bảo giám cất giữ hai mươi bốn phương ngự bảo, những chiếu thư cáo thiên hạ như đăng cơ, đại xá, truyền vị đều bắt buộc phải dùng Hoàng đế chi bảo. Cho dù Tiên đế bí mật lập chiếu thư truyền vị thì cũng nhất định phải lấy ngự bảo này đóng ấn, có như vậy mới khiến bá quan tuân theo.
“Ngô Cát An, ngươi lập tức tới Thượng Bảo giám lấy sổ lưu, tra xem Minh Tuyên năm thứ bốn mươi tám Hoàng đế chi bảo có từng được lấy dùng hay không.” Hoàng đế ngồi xuống, âm trầm nói, “Trẫm sẽ ngồi đây chờ, nếu ngươi có nửa câu gian dối, trẫm sẽ lăng trì xử tử ngươi.”
Ngô Cát An lĩnh mệnh, lui khỏi đại điện, nhanh chóng đi tới Thượng Bảo giám. Sổ sách thời Tiên đế tại vị đều đã niêm phong cất trong kho, Ngô Cát An gọi hơn mười cung nhân cùng nhau lục tìm, gây ra động tĩnh không nhỏ, cuối cùng mới tìm được hồ sơ Minh Tuyên năm thứ bốn mươi tám, hắn kẹp trong ngực chạy bước nhỏ suốt đường trở về điện.
Trong điện vẫn chỉ có Trần Thủ Thiện và Hoàng đế. Lão nhân bị cú đá kia làm bị thương không nhẹ, lúc này đang nằm xiêu vẹo trên đất, nửa sống nửa chết, nom như chỉ còn hơi vào mà chẳng còn hơi ra. Ngô Cát An quỳ giữa điện, hai tay dâng sổ lên: “Hoàng thượng.”
Hoàng đế giật lấy, xé lớp sáp niêm phong, động tác hơi gấp gáp lật xem. Hoàng đế chi bảo chỉ dùng khi có đại sự, mấy năm chưa chắc đã lấy ra một lần, bởi vậy muốn tìm ghi chép sử dụng nó trong sổ cũng không khó, chỉ cần nhìn vào những mục đã được phân loại rõ ràng, rất nhanh liền tìm thấy ghi chép Hoàng đế chi bảo từng được lấy dùng, thời gian ghi bên trên chính là ngày mùng Bảy tháng Chín, Minh Tuyên năm thứ bốn mươi tám.
Hoàng đế kinh hãi đến gan mật muốn vỡ, trừng chằm chằm vào hàng chữ cũ kỹ ấy, hai mắt như muốn nứt ra. Hơi thở hắn đột nhiên dồn dập, máu trong toàn thân sôi trào, bên tai nghe rõ tiếng tim đập dữ dội, nỗi sợ phát ra tiếng gầm chấn động, hóa thành sóng lớn ngập trời đập xuống đầu hắn, khiến hắn lăn lộn giữa biển sóng rồi nhanh chóng bị nuốt chửng — hắn nhớ rất rõ, năm ấy không hề có việc gì cần cáo thiên hạ, vậy Hoàng đế chi bảo được lấy dùng, chẳng lẽ thật sự là để lập chiếu thư truyền vị!?
Hắn mềm nhũn ngồi phịch xuống ghế, toàn thân mất sạch sức lực, ngay cả cuốn sổ cũng không cầm nổi, mặc nó lăn xuống đất. Nhưng sự thất thố ấy chỉ kéo dài trong chốc lát, rất nhanh hắn đã dùng ánh mắt hung ác quét lên mặt Trần Thủ Thiện, lại nhìn Ngô Cát An một cái.
Ngô Cát An lập tức nhận ra hắn đã nổi ý giết người diệt khẩu, quỳ sụp xuống đất, dập đầu bình bịch: “Hoàng thượng! Nô tài một lòng son không đổi, đời này chỉ nguyện trung thành với Hoàng thượng, tuyệt đối không sinh lòng phản bội.”
Hoàng đế im lặng không nói, lạnh lùng nhìn hắn. Chuyện chiếu thư đương nhiên càng ít người biết càng tốt, hai người trong điện này không giữ lại một ai mới là an toàn nhất.
Ngô Cát An lại nói: “Năm xưa nô tài liều chết lẻn vào doanh Chưởng ấn của Ngự Mã giám, vốn đã ôm ý định mất mạng cũng phải chém đầu hắn xuống, chỉ vì muốn quét sạch chướng ngại trên con đường phía trước của Hoàng thượng, nhiều năm liền trước sau chưa từng đổi chí, trời đất chứng giám, nhật nguyệt soi tỏ, nếu nô tài sinh lòng hai dạ, cam chịu thiên lôi đánh xuống, nghiền xương thành tro!”
Hoàng đế nghe hắn khóc lóc bày tỏ lòng trung thành, cũng nhớ tới đêm Tiên đế băng hà năm ấy, Ngự Mã giám mang binh muốn phản, áp sát cửa cung, trong tay hắn không có binh quyền, chỉ một lòng chờ Triệu Chấp dẫn binh mã của Lữ hầu tới cứu mạng, chính Ngô Cát An đã lẻn vào doanh địch, chém đầu vị Chưởng ấn công công kia, khiến bọn họ như rắn mất đầu, quân tâm rối loạn, lúc ấy mới nhanh chóng bị dẹp yên. Nhờ công lao này, Hoàng đế ban cho hắn chức vụ trong Tư Lễ giám, những năm qua hắn làm việc đáng tin, nhiều lần giúp Hoàng đế giải ưu, nhờ đó đường quan thuận lợi, được đề bạt tới vị trí hôm nay.
Bồi dưỡng một tâm phúc phải tốn mấy năm trời, quả thật chẳng phải chuyện đơn giản, huống hồ Ngô Cát An xưa nay vẫn thật thà an phận, năng lực xuất chúng, mọi mặt đều hợp ý hắn, là một thuộc hạ đắc lực. Hoàng đế nhớ tới công lao năm xưa và lòng trung thành tận tụy hầu hạ suốt bao năm của hắn, tạm thời tin lời thề độc ấy, chỉ uy hiếp: “Chuyện này nếu có người thứ ba biết, ngươi tuyệt đối không còn đường sống.”
Ngô Cát An liên tục tạ ơn. Hoàng đế nhìn Trần Thủ Thiện ở một bên, cất giọng gọi thị vệ ngự tiền vào điện, sau đó làm một động tác chém đầu.
Trần Thủ Thiện vốn đã hôn mê hồi lâu, nhìn qua chỉ còn lại một hơi cuối cùng, nhưng lúc bị người khiêng lên lại đột nhiên mở đôi mí mắt già nua, con ngươi đục ngầu đầy hơi nước, dường như dốc hết sức nhìn về phía Ngô Cát An một cái, nhưng lại không dám dừng lâu, rất nhanh đã thu ánh mắt về.
Ánh mắt trong khoảnh khắc ấy dường như cất giấu ngàn lời vạn tiếng, nhưng lại giống như chỉ có một câu, Ngô Cát An nhìn ông một lát, sau đó cúi đầu không nhìn nữa, trong tầm mắt khó tránh trông thấy vết máu trên vạt áo và mặt giày. Đó là máu lúc nãy Trần Thủ Thiện bị một cước đá đến hộc máu bắn lên.
Có những người kéo dài hơi tàn lâu đến vậy chỉ vì muốn làm một việc nào đó, hoặc nói ra một câu nào đó, đợi đến khi làm được rồi, sinh mệnh liền có thể không sợ hãi mà đi tới tận cùng, bởi sau đó sẽ có người thay hắn tiếp tục hoàn thành chuyện còn dang dở.
Trong cái nhìn ấy của Trần Thủ Thiện chất chứa vô số cảm xúc, duy chỉ không có oán trách, trách móc hay không cam lòng.
Ngô Cát An quỳ trên đất, chợt lên tiếng: “Hoàng thượng, hai ngày trước Hình bộ Thị lang đã trình hồ sơ thẩm tra Tần Hoán, người này từng nhắc trong ngục rằng Triệu đại nhân đã xuất hiện ở Tái Bắc vào Minh Tuyên năm thứ năm mươi mốt.”
Minh Tuyên năm thứ năm mươi mốt chính là năm Hách Liên Khâm chết tại Tái Bắc. Hoàng đế đầu tiên sững người, ngay sau đó liền nhớ ra năm ấy Triệu Chấp lấy lý do miền Nam lũ lụt tràn lan, tự xin tới vùng bị thiên tai trị thủy mới rời kinh thành — nhưng thực tế hắn lại tới Tái Bắc, còn che giấu chuyện này cho tới tận hôm nay.
Đi làm gì? Đi cướp chiếu thư truyền vị từ tay Hách Liên Khâm sao?
Nhưng vì sao Tiên đế lại giao chiếu thư truyền vị cho Hách Liên Khâm?
Bình luận (không cần tài khoản vẫn bình luận)
Hãy để lại cảm nhận của bạn về truyện hoặc chương này.